Hồi 30: Võ Thành Vương phản Trụ đầu Chu

Quan đại phu Dao Trung vào đến lầu Trích Tinh, quỳ lạy ra mắt Trụ Vương, dâng sớ tâu:

– Nay Văn Vương đã qua đời, con là Cơ Phát lên nối ngôi, không đợi lệnh thiên tử, tự mình xưng Võ Vương, chư hầu đều phục tùng, thiên hạ thảy kính vì. Nếu bệ hạ không lo trừ trước, e sinh mầm đại họa, vậy xin hưng binh phạt Chu để răn chư hầu.

Trụ Vương nói:

– Cơ Phát là thằng con nít, làm được việc gì mà lo?

Dao Trung tâu:

– Cơ Phát tuy trẻ tuổi, song có Khương Thượng trí giả, Nam Cung Hoát võ nghệ siêu quần, Táng Nghi Sanh văn hay xuất chúng, đó là mối họa cho triều đình. Nếu bệ hạ không lo trước sau này khó.

Trụ Vương nói:

– Khanh cho việc ấy là trọng, nhưng trẫm nhắm Khương Tử Nha chỉ là một gã thầy bói có tài, dùng vào việc trị nước thì làm gì được mà sợ.

Dao Trung biết Trụ Vương chỉ muốn ngồi hưởng lạc, không có ý chinh Tây, nên vội cúi lạy xuống lầu, than thầm:

– Chắc là cơ nghiệp nhà Thương về tay Cơ Phát rồi.

Ngày tháng thoi đưa, chẳng bao lâu tết xuân lại đến. Năm ấy vào năm thứ hai mươi mốt của niên hiệu Trụ Vương, bá quan đợi đến ngày mồng một là ngày nguyên đán, đồng vào lạy mừng. Theo thường lệ, ngày ấy vợ các vị quan lớn đều vào cung chúc mừng chánh hậu. Bấy giờ vợ Võ Thành Vương tính vào chầu trước để có thì giờ sang Tây cung viếng thăm Hoàng quí phi, là em chồng của mình, bởi một năm chị em xa cách, chỉ có ngày ấy mới được gặp nhau, và có dịp tâm tình lâu hơn.

Vợ Võ Thành Vương là Giả thị, khi đến nơi thì cung nhân vào báo với Ðắc Kỷ. Ðắc Kỷ vốn có tư thù với Võ Thành Vương Hoàng Phi Hổ nên nghe Giả thị đến, nhớ thù xưa, nhủ thầm:

– Hoàng Phi Hổ trước đây hung hăng thả thần oanh cào mặt ta, bận ấy chưa trả, nay sẵn dịp cũng nên hành hạ vợ nó một phen.

Rồi ngồi truyền cung nữ đòi Giả thị vào. Giả phu nhân vào làm lễ xong, Ðắc Kỷ hỏi:

– Phu nhân năm nay được mấy xuân xanh?

Giả thị đáp:

– Tôi năm nay đã ba mươi sáu tuổi.

Ðắc Kỷ thấy Giả phu nhân lớn tuổi mà nhan sắc mặn mà, nghĩ ra một kế nói:

– Phu nhân lớn hơn ta tám tuổi, vậy ta cùng phu nhân kết làm chị em, có được không?

Giả phu nhân nói:

– Chánh hậu quyền trọng muôn xe, bậc mẫu nghi thiên hạ, còn tôi là vợ của một vị vương, có đâu dám lỗi nghi.

Ðắc Kỷ nói:

– Phu nhân nói khiêm nhượng đấy. Ta tuy hưởng phòng tiêu chứ trước kia cũng chỉ là con gái của một chư hầu, còn phu nhân là nguyên phối của Võ Thành Vương, lại thêm quốc thích, xét như vậy thì thấp cao không phân biệt, nặng nhẹ cũng bằng nhau.

Nói rồi truyền dọn yến tiệc thết đãi. Giả phu nhân giữ lễ ngồi dưới, Ðắc Kỷ ngồi trên, cùng nhau uống rượu. Nhưng rượu mới chỉ được vài tuần thì bên ngoài có quan hoạn vào thưa:

– Thánh giá ngự đến.

Giả phu nhân vội vã hỏi:

– Xin chánh hậu cho phép tôi lánh mặt chỗ nào cho tiện.

Ðắc Kỷ nói:

– Không hề chi đâu, chị cứ vào cung phòng của tôi tránh đỡ.

Giả phu nhân tuân lệnh, ẩn mặt phía sau, còn Ðắc Kỷ ra ngoài tiếp giá. Trụ Vương bước vào, thấy yến tiệc còn bỏ dở, liền hỏi:

– Ái khanh uống rượu với ai vậy?

Ðắc Kỷ nói:.

– Thần thiếp đang khoản đãi vợ Võ Thành Vương là Giả phu nhân.

Trụ Vương nói:

– Ngày nguyên đán, các vị phu nhân đến chúc mừng, cũng nên bày tiệc vui vầy cho thỏa tình thần tử.

Nói rồi truyền dọn thêm tiệc để cùng với Ðắc Kỷ giao bôi. Qua một lúc, Ðắc Kỷ hỏi Trụ Vương:

– Bệ hạ đã thấy nhan sắc của Giả phu nhân chưa?

Trụ Vương nói:

– Sao ái khanh nói trái lẽ như vậy? Vua có bao giờ được quyền thấy mặt vợ bề tôi?

Ðắc Kỷ ngồi mỉm cười, tìm lời đánh vào nhược điểm của Trụ Vương:

– Rất tiếc, trong đời có một sắc đẹp tuyệt trần như vậy mà bậc chí tôn không có quyền nhìn đến.

Vua Trụ hỏi:

– Giả phu nhân đẹp lắm sao?

Ðắc Kỷ nói:

– Tuy đã có tuổi, nhưng nét mặt thật ít có trong đời. Khi thần thiếp đã khen thì không phải không đặc biệt.

Trụ Vương nói:

– Dù sao trẫm là vua, không thể lỗi đạo với quần thần.

Ðắc Kỷ cười:

– Bệ hạ quá câu chấp, Giả thị là vợ Võ Thành Vương, mà Võ Thành Vương là anh của Hoàng quí phi thì cũng xem như quốc thích rồi, dù bệ hạ có gặp mặt cũng vô can. Vả lại ngoài dân dã vợ cậu chồng cô còn được phép ngồi chung ăn tiệc, có gì trái lẽ đâu.

Trụ Vương nghe nói Giả phu nhân có sắc đẹp, cũng muốn nhìn tận mặt cho biết, liền hỏi Ðắc Kỷ:

– Trẫm với Hoàng Phi Hổ coi như tình gia đình thì dù gặp mặt Giả phu nhân cũng được, nhưng phải làm cách nào để cho tiện?

Ðắc Kỷ nói:

– Không khó gì, xin bệ hạ lánh mặt vào nơi nào đó một lát, chờ thần thiếp rủ Giả phu nhân lên chơi trên lầu Trích Tinh, chừng ấy thì bệ hạ hạ giá đến thì Giả phu nhân không còn chỗ ẩn mình.

Trụ Vương liền bước ra khỏi cung.

Ðắc Kỷ cho mời Giả phu nhân trở ra tiếp tục tiệc rượu. Uống thêm vài tuần, Ðắc Kỷ nói với Giả phu nhân:

– Một năm mới gặp nhau một lần, chị em ta đến lầu Trích Tinh xem chơi phong cảnh một chút.

Giả phu nhân không dám trái mệnh, liền theo Ðắc Kỷ lên lầu. Trích Tinh là một cái lầu cao chót vót, phong cảnh rất đẹp, vàng ngọc, gấm vóc nguy nga, Giả phu nhân chưa từng đến một nơi vàng son như vậy nên chói mắt. Giả phu nhân trông thấy không biết bao nhiêu cái đẹp, nhưng khi trông xuống lầu thấy Sái Bồn, rắn bò lúc nhúc và xương người chất đống, trông rất ghê rợn. Còn bên tả rừng thịt gió thổi phất phơ, lại bên hữu ao rượu hơi bốc lên nồng nực. Giả phu nhân hỏi Ðắc Kỷ:

– Tâu chánh cung, chẳng hay hầm ấy là hầm gì, chứa đầy rắn độc như vậy?

Ðắc Kỷ nói:

– Các cung nhân phạm tội dùng luật thường xử phạt chúng không sợ nên phải lập ra Sái Bồn để cho chúng sợ. Kẻ nào phạm tội thì lột hết quần áo, ném xuống đó làm mồi cho rắn kia.

Giả phu nhân nghe nói, rụng rời tay chân. Ðắc Kỷ lại truyền bày tiệc rượu để khuyên mời, Giả phu nhân từ chối vì đã quá chén. Ðắc Kỷ nói:

– Tôi biết chị đang nóng lòng sang Tây cung, nhưng đã đến đây cũng nên vị tình tôi uống thêm vài chén.

Giả phu nhân không dám cãi lệnh vì chánh cung là chúa các vợ quan.

Bấy giờ Hoàng quí phi đang ở Tây cung trông ngóng Giả phu nhân nhưng không thấy, bởi chị em thương yêu nhau lắm mà một năm chỉ được quyền họp mặt một lần, mong có nhiều thì giờ để nói chuyện. Xảy thấy hoạn quan về báo:

– Giả phu nhân lên chơi lầu Trích Tinh với hoàng hậu.

Hoàng quí phi thất kinh, nhủ thầm:

– Ðắc Kỷ là đứa xảo quyệt, lại hay ghen, sao tẩu tẩu lên lầu Trích Tinh với nó làm gì? Lầu Trích Tinh là chỗ vua ngự mà!

Nghĩ rồi liền truyền hoạn quan đến dưới lầu thám thính tin tức Giả phu nhân.

Ðắc Kỷ và Giả phu nhân đang uống rượu trên lầu, bỗng có thái giám vào tâu:

– Thánh giá đến.

Giả thị kinh hãi, không biết đường nào lánh mặt, Ðắc Kỷ nói:

– Không hề chi. Chị cứ ra ngoài lan can, đợi tôi tiếp bệ hạ rồi chị đến ra mắt, xong xuống lầu cũng chẳng sao.

Giả phu nhân cực chẳng đã phải vâng lời. Ðắc Kỷ đứng dậy bước ra tiếp kiến vua Trụ. Trụ Vương vào trong, cố ý hỏi:

– Người nào đứng ngoài lan can vậy?

Ðắc Kỷ tâu:

– Nàng ấy là Giả thị, vợ của Võ Thành Vương.

Giả thị lúng túng, đưa cái hốt bằng ngà che mặt thi lễ. Ðắc Kỷ thấy thế nói:

– Thôi, khanh đứng dậy.

Giả thị vâng lệnh đứng dậy, nép qua một bên. Vua Trụ trộm nhìn Giả thị thấy nhan sắc lộng lẫy, hình dung đoan chính. Nhà vua lấy làm hài lòng chỉ ghế mời ngồi, Giả thị tâu:

– Bệ hạ và chánh cung là chúa trong trời đất, tôi đứng hầu còn sợ không xứng đáng, dám đâu đến ngồi.

Ðắc Kỷ nói:

– Chị hãy ngồi xuống đi, không có chi phải sợ.

Vua Trụ thoáng vẻ ngạc nhiên hỏi Ðắc Kỷ:

– Sao ngự thê gọi Giả phu nhân bằng chị?

Ðắc Kỷ che miệng cười nửa nụ, nói với Trụ Vương:

– Tôi mới kết nghĩa cùng Giả phu nhân và nhận người làm chị.

Giả phu nhân nghe qua những lời đáp của Ðắc Kỷ, biết mình đã mắc mưu, lật đật quỳ xuống tâu:

– Thần thiếp đến đây lạy mừng bệ hạ, cứ lấy lễ vua tôi để kẻ dưới an lòng. Xưa nay vua không thể thấy mặt vợ tôi, xin bệ hạ an nghỉ, cho thần thiếp cáo lui, ơn thánh thượng sánh bằng trời biển.

Vua Trụ nói:

– Hoàng di khiêm nhượng đấy thôi, chẳng ngồi thì đứng, để trẫm lấy chung rượu này giả ơn.

Vua Trụ rót rượu đem xuống. Giả thị giận đứng dậy, mặt đỏ tía tai, nghĩ mình là vương phi, không lẽ chịu nhục. Trụ Vương bưng chén rượu, làm mặt vui, đưa cho Giả phu nhân, Giả thị thối thác, cứ lui mãi đến khi lưng đụng tường, không còn đường để tránh nữa, giận quá hất chén rượu rớt xuống, thuận tay tát vào mặt vua Trụ, nguyền rủa:

– Chồng tôi không nề gian nguy, ngày đêm gìn giữ giang san, lập nhiều chiến công hiển hách, nay hôn quân nghe lời Ðắc Kỷ, điếm nhục vợ công thần, rồi đây hôn quân và con Ðắc Kỷ dâm loàn sẽ phải chết thảm khốc.

Vua Trụ xấu hổ, nổi giận, truyền quân sĩ bắt trói, nhưng Giả thị hét lên:

– Dừng lại, đừng ai bắt ta cả.

Ðoạn chạy ra lan can than:

– Hoàng tướng quân ôi, thiếp thề trọn trinh tiết với chàng, nhưng ba đứa con thơ từ đây lấy ai săn sóc?

Ðoạn nhảy xuống lầu. Thương cho tấm thân bồ liễu phải chết thảm thiết, nát thịt, giập xương. Có thơ đề:

Vào cung chầu chực họa vì đâu
  Giả thị kiên trinh nhảy xuống lầu
  Lỗi đạo hôn quân bày chén rượu
  Gieo mình, tiết phụ hận thâm bâu
  Lỗi lầm làm mất giang san Trụ
  Ðêm ấy gây nên sự nghiệp Chu?
  Phi Hổ đau lòng mang tiếng phản
  Sấp sau loạn hết tám trăm hầu.

Vua Trụ thấy Giả phu nhân liều mình chết, thì nghĩ:

– Ðất bằng vì đâu bỗng dâng sóng gió?

Lòng hối hận khôn cùng.

Khi ấy bọn hoạn quan giục ngựa như bay về báo tin với Hoàng quí phi:

– Không rõ vì đâu mà Giả phu nhân đã té lầu chết.

Nghe tin thảm khổ như vậy, Hoàng quí phi khóc lớn:

– Ðắc Kỷ là con khốn nạn, thù anh ta nên lập kế báo thù, hại chị dâu ta chết oan ức.

Thương anh thương chị, Hoàng quí phi không dằn được cơn lửa giận, phi ngựa đến lầu Trích Tinh, điểm mặt Trụ Vương mắng:

– Hôn quân có biết cơ nghiệp Thành Thang còn tồn tại nhờ ai đó không? Có phải anh ta ngày đêm băng rừng lội suối dẹp loạn, Ðông đánh Hải khấu, Nam dẹp Man di, há ngại gian lao, giữ ngôi vua vững như bàn thạch? Hoàng Cổn cha ta, trấn ải Giới Bài, nằm gai nếm mật để giúp chúa, cả nhà xả thân vì nước. Ngày nay tết Nguyên Đán, chị ta vào chầu để tỏ lòng kính chúa, lẽ nào hôn quân nghe lời Ðắc Kỷ, gạt chị ta lên lầu, giục lòng háo sắc, chẳng kể thế nào là tôi chúa, gây tiếng xấu cho tiên vương, bêu danh nhơ cho sử sách?

Vua Trụ làm thinh chẳng đáp. Hoàng quí phi quay qua, nhìn thấy Ðắc Kỷ ngồi đó, đùng đùng nổi giận mắng luôn:

– Còn con hồ ly lăng loàn này nữa, bày điều cho chúa làm sằng bậy, chị dâu ta chết cũng tội mi.

Như để trút cơn giận dữ Hoàng quí phi lôi Ðắc Kỷ ra đấm hơn ba mươi đấm. Hoàng quí phi là con nhà võ nên sức mạnh có thừa, còn Ðắc Kỷ tuy là yêu quái, song thấy vua Trụ ngồi đó nên chẳng dám trổ tài thú vật để phản đòn, chỉ giả vờ kêu la van vua Trụ:

– Xin bệ hạ cứu thần thiếp với…

Vua Trụ nghe tiếng van nài cứu tử của Ðắc Kỷ thì đau khổ, nên bước tới khuyên:

– Tại chị dâu của quí phi xúc phạm trẫm, rồi liều mình chết như vậy, chứ Ðắc Kỷ có tội gì đâu mà đánh đập như thế?

Hoàng quí phi trong cơn nóng giận đưa cao tay đánh Ðắc Kỷ, nhưng không ngờ đánh nhầm mặt Trụ Vương, mà còn lớn tiếng nói:

– Hôn quân còn bênh vực cho con dâm loạn, quyết đánh cho chết đứa bất nhân mà thế mạng người thác vô tội.

Vua Trụ giận quá vỗ bàn thét:

– Con khốn nạn này dám cả gan đánh trẫm.

Như muốn ăn tươi nuốt sống, vua Trụ tay trái nắm tóc Hoàng quí phi, tay phải nắm áo, bởi vua Trụ là người giỏi võ và có sức mạnh hơn người, nhấc bổng Hoàng quí phi, quăng xuống lầu Trích Tinh. Tội thay:

Hương tiêu ngọc nát hồn theo gió
  Lá rụng hoa rơi máu ướt mình.

Nhìn lại hành động vừa rồi của mình, vua Trụ lấy làm khổ sở, chẳng buồn ngó đến chánh cung.

Mấy con thế nữ đi với Giả phu nhân chẳng hề hay biết việc gì xảy ra, đứng ngoài đợi mãi, đến tối nội thị bước ra hỏi:

– Chúng bay đi đâu đây?

Các thế nữ thưa:

– Chúng tôi đi với Giả phu nhân, đợi chủ ra để hầu về phủ.

Nội thị thương hại nói:

– Giả phu nhân té lầu Trích Tinh chết rồi! Hoàng quí phi lên mắng vua, vua giận quăng xuồng lầu cũng không còn. Thôi chúng bay về cho xong việc.

Bọn thế nữ nghe hung tin đồng chạy về vương phủ báo tin.

Hoàng Phi Hổ đang ngồi uống rượu với hai em ruột của mình là Hoàng Phi Bưu, Hoàng Phi Báo và bốn người em bạn là Hoàng Minh, Châu Kỷ, Long Hoàn, Ngô Khiêm, cùng ba con trai là Hoàng Thiên Lộc, Hoàng Thiên Tước, Hoàng Thiên Tường. Ðoàn thế nữ hớt hải chạy vào tâu:

– Thiên tuế ôi! Tai họa lớn lắm!

Hoàng Phi Hổ kinh ngạc hỏi:

– Tai họa gì?

Thế nữ quì thưa:

– Phu nhân vào chầu thiên tử, không rõ vì đâu đã té lầu Trích Tinh chết. Hoàng nương nương cũng bị vua ném xuống lầu chết rồi.

Lúc ấy Hoàng Thiên Lộc mới mười bốn tuổi, Hoàng Thiên Tước mười hai tuổi, Hoàng Thiên Tường bảy tuổi, nghe tin mẹ té xuống lầu chết, ba anh em khóc than thảm thiết. Có bài thơ:

Xảy nghe tin dữ cả nhà kinh
  Con khóc vang tai cũng động tình
  Ngơ mặt vì vua sanh mặt bạc
  Hết tình vì vợ giữ lòng trinh
  Xem qua bốn bạn đều căm tức
  Ngó lại ba con rất bực mình
  Hổ nghẹn trân trân khôn mở miệng
  Vì chưng tai họa đến thình lình!

Hoàng Phi Hổ ủ mặt suy nghĩ, tiếng khóc của ba con thêm rối loạn. Hoàng Minh nói:

– Anh còn ngờ vực gì nữa chứ? Trụ Vương đã nhúng tay vào việc này chứ còn ai khác hơn? Trước sắc đẹp của chị, vua Trụ động tình, buông lời chọc ghẹo, tẩu tẩu là người đàn bà trọng trinh tiết với chồng nên liều chết để bảo tồn tiếng sạch giá trong. Riêng về quí phi, nóng ruột xúc phạm đến Ðắc Kỷ, Trụ Vương mới ra tay rửa hờn. Anh hãy bình tĩnh suy xét lại coi. Theo ý em, khi vua bất minh thì tôi đầu ngoại quốc, cạn lẽ mà suy, chúng ta định Ðông dẹp Bắc, ngựa chẳng rời yên, phá Ðông, phạt Tây, người không lìa giáp, công ơn ấy hôn quân đãi ngộ như thế sao? Còn mặt mũi nào nhìn anh hùng bốn bể? Vì thế tiểu đệ, Châu Kỷ, Long Hoàn, và Ngô Khiêm đồng lòng phản chúa.

Bấy giờ tâm sự xong, bốn tướng cầm thương lên ngựa đi ngay. Hoàng Phi Hổ thấy bốn người đã khuất dạng, lòng bàng hoàng đắn đo suy tính, mới nói một mình nghe:

– Không lẽ vì một con ác phụ mà mình sinh lòng bội phản? Người đời sẽ nghĩ sao về hành động của Hoàng Phi Hổ này?

Nghĩ thế, Phi Hổ vội vàng chạy theo gọi bốn tướng:

– Các em hãy trở về, suy nghĩ cho chín chắn đã, chớ bốc đồng đi như thế. Vậy thì mình phải phò vua nào, ở nơi đâu, còn lương thực đem theo dùng trong lúc đi đường?

Bốn người cho là phải nên quay ngựa trở về dinh, bất giác Hoàng Phi Hổ rút gươm khỏi vỏ hét lớn:

– Bốn tên giặc, các ngươi muốn hại cả nhà ta hay sao? Vợ ta té lầu chết oan can chi đến các ngươi? Lũ ngươi có biết dòng họ Hoàng có hơn hai trăm năm lẻ giúp vua, đã bảy đời, bây giờ các người lấy cớ vợ ta chết mà xúi ta phản chúa ư? Các ngươi lợi dụng, đục nước béo cò, làm chuyện bất lương sao? Các người không nhìn lại lưng vàng buộc bụng, đọc chữ trung vương?

Bốn người cúi đầu nghe Hoàng Phi Hổ mắng nhiếc, chẳng nói lấy một câu. Hoàng Minh cười nói:

– Anh mắng đúng lắm, chuyện ấy không phải của bọn này.

Nói đoạn bốn người cười cởi mở và tiếp tục uống rượu như xưa.

Ðằng kia Hoàng Phi Hổ bừng bừng lửa giận, bên này bốn tướng cười, bên kia ba con ôm mặt khóc thảm thiết. Lửa giận cứ trào dâng, Hoàng Phi Hổ nói lớn:

– Chúng bay vui lắm hay sao mà cười như vậy?

Hoàng Minh nói:

– Anh có chuyện nhà buồn bực, bọn nay vô sự, nhân ngày tết uống rượu vui cười, anh cấm nữa sao mà anh lại tra vấn?

Hoàng Phi Hổ nói:

– Nhà ta nay gặp chuyện ma chay khổ sở, các ngươi lại cười?

Châu Kỷ nghiêm ngay nét mặt nói:

– Thật tình chúng tôi cười anh đó.

Hoàng Phi Hổ hỏi lại:

– Ta có gì mà các ngươi lại cười?

Châu Kỷ phân giải:

– Anh là người đứng đầu trên các tướng trong triều, kẻ hiểu biết thì biết anh nhờ công lớn làm nên sự nghiệp, nhưng kẻ khác lại nghĩ phần lớn sự nghiệp này là do sắc đẹp của chị mà nên.

Châu Kỷ nói chưa dứt lời thì Hoàng Phi Hổ vỗ bàn nạt lớn:

– Ta không còn chịu nổi các ngươi được nữa, ta chết mất đi thôi.

Rồi lập tức truyền gia tướng gấp rút cuốn đồ tế nhuyễn, ra roi giục ngựa khỏi Triều Ca. Hoàng Phi Bưu thấy anh mình thật sự phản chúa liền sắm sửa bốn trăm cỗ xe, một ngàn gia tướng, dọn cả vàng bạc, lương thảo, đâu đó xong xuôi. Hoàng Phi Hổ quay đầu hỏi:

– Bây giờ ta đầu nước nào?

Hoàng Minh nói:

– Hễ tôi hiền phải phò chúa thánh, trong thiên hạ nay đã chia ba, Chu Võ Vương chiếm được hai phần, ta đầu Tây Kỳ thì không mất phần vinh hiển.

Ðứng ngoài Châu Kỷ nghĩ thầm:

– Mình nói khích nên anh tự ái làm phản, biết đâu chốc nữa đây cơn giận tiêu tan, anh sẽ hồi tâm quay về. Hay ta làm một kế mọn để gài anh mình không còn dịp nào trở lại nữa.

Trong bụng nghĩ vậy, Châu Kỷ lấy làm thích thú, tươi nét mặt nói:

– Muốn qua Tây Kỳ phải vượt qua năm ải và đem quân về phục thù cho tẩu tẩu thì chậm lắm, chi bằng sẵn đây ta kéo nhau qua hỏi tội Trụ Vương, dò phản ứng y như thế nào?

Hoàng Phi Hổ lên ngựa phóng theo Châu Kỷ, Hoàng Minh, vào Ngọ môn tìm Trụ Vương. Phi Bưu, Phi Báo dắt ba cháu và Long Hoàn, Ngô Khiêm, tất cả bảy người, truyền gia tướng đẩy xe về phía Tây môn đi trước.

Trời vừa rạng sáng, Châu Kỷ đã đến Ngọ môn gọi lớn:

– Quan đương giá gọi Trụ Vương ra đây nói chuyện cho mau, như cãi lời ta đừng trách ta sao vô lễ.

Trong khi đó Trụ Vương trong cơn bối rối, nghĩ đến hành động vừa qua làm cho Giả thị nhào xuống lầu chết, ném Hoàng quý phi tan xương nát thịt, lòng buồn lo, bỗng từ ngoài quan đương giá vào tâu:

– Hoàng Phi Hổ đã phản bệ hạ, đang chờ ngoài, gọi bệ hạ khiêu chiến.

Nghe qua, vua Trụ nổi cơn thịnh nộ, mắng lớn:

– Ðồ thất phu, dám cả gan khinh trẫm.

Truyền quân lấy giáp gọn gàng, cầm siêu đao, lên yên ngựa ra ngõ.

Khi ấy Hoàng Phi Hổ đứng ngoài, nhận thấy mặt Trụ Vương, cũng thẹn. Châu Kỳ hiểu ý liền lớn tiếng hỏi Trụ Vương:

– Trụ Vương là hôn quân vô đạo, làm chúa hiếp vợ tôi, là vua vô liêm sỉ, thì còn để làm gì cho bẩn mắt?

Nói rồi thúc ngựa tới đưa búa ra chém Trụ Vương, vua Trụ cũng nổi xung đưa đao ra đỡ. Hoàng Minh thấy vua Trụ mạnh quá cũng ra ngựa tiếp ứng. Nhìn cảnh hỗn loạn Hoàng Phi Hổ thấy tức quá, không để cho mình hỏi phân minh, nhưng tới nước liều cũng phải ra tay, một rồng ba cọp quấn lấy nhau trước Ngọ môn.

Có thơ đề:

Trụ Vương chẳng giữ đạo bề trên
  Rồng cọp đua tranh trước cửa đền
  Khiến nỗi trung lương tìm một cõi
  Làm cho hào kiệt tránh hai bên
  Muôn dân khó chịu vua sâu độc
  Năm ải không ngăn tướng dạn tên
  Nguồn nước không trong dòng phải độc
  Sử xanh ghi chép việc như nên.

Trận đấu tranh nhau có trên ba mươi hiệp. Trụ Vương đánh siêu đao hay lắm, biến hóa như rồng, nhưng làm sao cự lại ba con hùm từng vẫy vùng trong bốn bể. Lượng sức mình không cự nổi nên Trụ Vương phải nhịn thua bỏ chạy, Hoàng Minh thừa thắng thúc ngựa đuổi theo, Hoàng Phi Hổ cản lại nói:

– Không nên rượt theo vua, chúng ta hãy trở ra cho kịp.

Ba người ra roi, giục ngựa, bay biến theo gia quyến ở Tây môn. Ðoàn người gặp nhau tiến về một nước.

Trụ Vương vào đền nghỉ mệt, lòng căm tức vô cùng. Tất cả các nhà trong Triều Ca đều đóng cửa, ai ai cũng sợ tai bay họa gió.

Tin Trụ Vương đánh với Võ Thành Vương tới tai các quan trong triều, họ đều vào thăm và hỏi:

– Hoàng Phi Hổ vì sao lại phản chúa?

Vua Trụ kiếm cớ chạy chối:

– Nhân ngày tết Giả thị đến chầu long thể nhưng lại xúc phạm chánh cung, phải tội chết, nên đã gieo mình xuống lầu chết chứ nào phải tại ai giết? Trẫm chẳng rõ nguyên do nào khiến cho Hoàng Phi Hổ làm phản, để đến Ngọ môn khiêu chiến. Chuyện trái lẽ như vậy, bá quan nghĩ thế nào?

Trong lúc bá quan còn đang luận bàn, thì thấy quân thám thính vào báo:

– Văn thái sư dẹp Ðông hải xong rồi, dẫn binh về gần đến.

Bá quan nghe báo mừng rỡ khôn cùng, đồng leo lên ngựa tiếp nghênh. Thái Sư cưỡi Hắc kỳ lân đi đến cửa, cùng nhau chào hỏi, rồi đồng vào chào thiên tử.

Khi làm lễ xong, Văn thái sư không thấy Hoàng Phi Hổ đâu, sinh nghi, tâu:

– Chẳng hay Võ Thành Vương đi đâu vắng mặt?

Vua Trụ nói:

– Hoàng Phi Hổ phản trẫm rồi.

Văn Thái Sư kinh khiếp hỏi:

– Vì cớ nào vậy bệ hạ?

Vua Trụ phán:

– Ngày nguyên đán, Giả thị vào chầu đã cố ý xúc phạm chánh cung nên sợ tội đã nhào xuống lầu chết, Hoàng quí phi hay tin đến hành hung đả thương hoàng hậu, còn sỉ nhục quả nhân, trẫm vô tình nắm tay đẩy ra nhưng rủi thay té lầu theo chị dâu một thể. Hoàng Phi Hổ không hiểu căn cội, ỷ mạnh, đến đây khiêu chiến, ba anh em đánh trẫm chẳng chút nương tay, trẫm cố hết sức mới tránh được. Bây giờ thì Hoàng Phi Hổ đã ra khỏi Tây môn, trẫm bối rối chưa biết phải làm sao trừ tên giặc ấy. Bất ngờ thái sư về đến, vậy thái sư hãy đuổi theo bắt trị tội phản thần.

Nghe rõ câu chuyện, thái sư tâu lớn:

– Tôi đã nghĩ chuyện này chắc tại vua phụ thần tử chứ lâu nay Hoàng Phi Hổ là tấm gương ái quốc trung quân. Xét Giả thị vào chầu thiên tử cũng không tội gì, có đâu chết vô cớ? Vả lại lầu Trích Tinh là chốn bệ hạ ngự, cách cung cấm xa lắm, lẽ nào Giả thị tự ý lên? Chắc có kẻ dỗ dành nên vua mang tiếng bất nghĩa. Bệ hạ không cân phân khiến cho người tiết liệt liều mình, Hoàng nương nương thương chị chết oan uổng. Bệ hạ vì tư vị hoàng hậu mà ra nông nỗi này. Bệ hạ có nhớ câu: “Vua chẳng minh thì tôi đầu nước ngoài”? Nghĩ lại Hoàng Phi Hổ là vị tướng có công lớn với nước, trọn lòng thờ kính quân vương, cơ nghiệp ấy vợ không được hưởng, con chẳng được nhờ ơn, lại chết thê thảm. Xin bệ hạ tha tội cho Hoàng Phi Hổ, xuống lá chỉ chiêu an đại thần để cho cơ nghiệp yên bền, quốc gia mới vững.

Bá quan nghe nói đồng tâu:

– Văn thái sư xử như vậy rất công bình, xin bệ hạ truyền chỉ xá tội cho Hoàng Phi Hổ, để Hoàng Phi Hổ trở về đoái công chuộc tội.

Văn thái sư quay qua nói với triều thần:

– Tôi tâu với thiên tử xá tội cho Hoàng Phi Hổ chỉ vì tôi cho rằng thiên tử đã phụ kẻ bề tôi, còn như ai thấy Hoàng Phi Hổ có lỗi gì với vua cũng nói ra đây cho minh bạch.

Quan hạ đại phu Từ Vinh thưa:

– Vua tuy phụ Hoàng Phi Hổ mà Hoàng Phi Hổ cũng phụ vua.

Văn thái sư hỏi:

– Hoàng Phi Hổ phụ vua chỗ nào?

Từ Vinh thưa:

– Vua hiếp vợ tôi là lỗi đạo, xô Tây cung xuống lầu là bất nghĩa, nhưng Hoàng Phi Hổ đến Ngọ môn đánh vua là phản phúc. Ðạo làm tôi, dù vua có lỗi cũng không nên đối xử như vậy.

Văn thái sư nghe nói, liền dặn các quan:

– Xin các ông nói vua có lỗi mà thôi, đừng nói Hoàng Phi Hổ có lỗi.

Văn thái sư dặn rồi liền gọi Kiết Lập và Dư Khánh, dạy rằng:

– Hai ngươi mau đem trát văn ra hai ải Minh Tân và Ðồng Quan, truyền các quan trấn ải giữ gìn, đừng cho Hoàng Phi Hổ qua ải. Ðợi ta đuổi theo bắt rồi sẽ lấy công bình mà xét xử.

 Trang trước Trang sau 
avatar
  Subscribe  
Thông báo về