Hồi 4. Hoa rụng, hoa nở

Giác Viễn biết rằng vị này là sư thúc của phương trượng Thiên Minh thiền sư, địa vị rất cao, khi thấy ông ta đối với Trương Quân Bảo có vẻ thù hận như thế thì không hiểu tại sao, nhưng mắt ông ta chứa đầy oán độc, trong đầu bỗng dưng nảy ra một điều, chẳng khác gì một tia lửa xẹt, nhớ lại năm xưa vô tình đọc được trong Tàng Kinh các một cuốn sách nhỏ. Cuốn sách mỏng đó chép lại một đại sự trong chùa như sau:

“Khoảng hơn 70 năm trước, phương trượng chùa Thiếu Lâm là Khổ Thừa, chính là sư tổ của Thiên Minh thiền sư. Trung thu năm đó, trong chùa có phiên khảo thí hàng năm tại Đạt Ma đường do phương trượng cùng hai vị thủ tọa Đạt Ma đường, La Hán đường cùng xét võ công các đệ tử. Sau khi các đệ tử biểu diễn xong, thủ tọa Đạt Ma đường là Khổ Trí thiền sư thăng tọa bình phẩm. Bỗng nhiên từ trong đám đông, một đầu đà để tóc vượt mọi người tiến ra, lớn tiếng nói:

– Khổ Trí thiền sư nói năng chẳng đâu vào đâu, không biết căn bản võ công là gì, vậy mà lại giữ chức thủ tọa Đạt Ma đường, thật đáng xấu hổ.

Chúng tăng ai nấy đều kinh ngạc, nhìn kỹ lại, hóa ra y là một người nhóm lửa nấu ăn trong nhà bếp. Các đệ tử Đạt Ma đường không đợi sư phụ mở lời đều lên tiếng quát mắng. Hỏa công đầu đà cũng quát lại:

– Sư phụ thì nói năng bậy bạ, đệ tử chúng bay cũng chẳng ra cái quái gì. Ra đây để ta dạy dỗ các ngươi.

Nói xong nhảy vào đứng giữa sân. Các đệ tử từng người bước ra cùng y động thủ đều bị y đánh bại. Thực ra tại Đạt Ma đường khi đấu với nhau, đồng môn so tài chỉ tới mức hơn thua là ngừng lại, thế nhưng gã hỏa công đầu đà ra tay cực kỳ tàn độc, y liên tiếp đánh bại chín đại đệ tử của Đạt Ma đường, chín nhà sư đó không gãy tay thì cũng què chân, người nào cũng bị trọng thương. Khổ Trí thiền sư vừa kinh hãi, vừa tức giận, thấy sở học của gã hỏa công đầu đà toàn là võ công bản môn chứ không phải cao thủ môn phái khác lẻn vào quấy phá nên cố nén giận hỏi y do ai truyền dạy. Gã hỏa công đầu đà đáp:

– Không ai dạy tôi cả, tôi tự học một mình.

Hóa ra nhà sư quản giám Hương Tích trù tính tình cực kỳ nóng nảy, đối với đầu đà nhóm lửa hơi sai một tí là giơ quyền thoi ngay. Y thân mang võ nghệ nên mỗi lần đánh rất nặng tay, gã hỏa công đầu đà trong ba năm bị đánh hộc máu ba lần, trong lòng tích oán nên lén lút học võ. Đệ tử chùa Thiếu Lâm ai cũng biết võ, nếu muốn học lén các chiêu thức thật có rất nhiều cơ hội. Y quyết tâm học để báo thù, lại trí tuệ hơn người nên sau hơn hai mươi năm đã luyện thành võ công thượng thừa. Tên hỏa công đầu đà đó tính tình âm hiểm, y giấu kín không ai hay biết, vẫn lặng lẽ ẩn thân dưới bếp chụm lửa, gã tăng nhân giám trù có đánh đập y cũng không đánh trả, đợi tới lúc tin rằng võ công cao hơn hết mọi người trong chùa, nhân kỳ khảo thí Trung Thu mới xuất đầu lộ diện thân thủ. Bởi do uất ức tích trong mấy chục năm nay, khiến y thù hận tất cả mọi tăng nhân, nên khi xuất thủ không một chút dung tình. Khổ Trí thiền sư hỏi kỹ đầu đuôi xong nói:

– Cái khổ tâm của ngươi, quả thật đáng kính.

Lập tức rời ghế đi xuống, ra tay cùng y tỉ thí. Khổ Trí thiền sư là cao thủ số một của chùa Thiếu Lâm bấy giờ, nhưng đấu đến hơn năm trăm hiệp Khổ Trí mới thắng được đối phương. Khi hai người dùng đến chiêu Đại Triền Ti, bốn cánh tay xoắn vào nhau, nhưng hai tay của Khổ Trí thiền sư đã ấn vào tử huyệt trên ngực của địch thủ, chỉ cần phát nội lực là hỏa công đầu đà phải táng mệnh, không còn cách gì giải nữa. Khổ Trí thương tình y tiềm tâm tự luyện, nên tới đó là coi như đã xong, không nỡ giết y, hai tay vừa rời nhau, hét lớn:

– Lùi ra ngay.

Nào ngờ hỏa công đầu đà hiểu lầm ý của ông, lại tưởng là đối phương sử dụng một chiêu trong Thần Chưởng Bát Đả. Thần Chưởng Bát Đả là một trong những tuyệt học của phái Thiếu Lâm, y đã từng xem đại đệ tử của Đạt Ma đường sử qua chiêu này, hai tay chém ra, đánh gãy một cái cột gỗ, kình lực thật là kinh hồn. Hỏa công đầu đà võ công tuy cao nhưng đều là học lén, chưa được minh sư chỉ điểm, tuy thời gian có dài nhưng đâu có thể học được hết phái Thiếu Lâm bác đại tinh thâm. Thực ra chiêu đó của Khổ Trí thiền sư là Phân Giải chưởng, mượn sức để chế ngự sức, cả hai bên cùng lui ra, có ý ngừng tay thôi không đấu nữa. Nào ngờ hỏa công đầu đà lại tưởng là chiêu thứ sáu trong Thần Chưởng Bát Đả là Liệt Tâm chưởng nên nghĩ thầm: “Ngươi định giết ta, đâu có dễ dàng như thế”.

Y lập tức tung mình nhảy lên, hai chưởng đánh ra một lượt. Hai chưởng đó như bài sơn đảo hải ào tới, Khổ Trí thiền sư hốt hoảng thu chưởng về đỡ nhưng không còn kịp nữa, chỉ nghe lách cách mấy tiếng, xương cánh tay trái cùng xương ngực của thiền sư đã bị đánh gãy nát. Chư tăng đứng bên kinh hoàng biến sắc, lập tức xông lên cứu viện nhưng Khổ Trí thiền sư chỉ còn thoi thóp, nội tạng đã bị trọng thương, không nói được một lời nào. Còn tên hỏa công đầu đà thì nhân lúc hỗn loạn đã trốn mất không biết đi đâu. Tối hôm đó Khổ Trí thiền sư vì bị thương quá nặng nên qua đời. Trong khi cả chùa đang sầu thảm, gã hỏa công đầu đà lại lẻn trở vào, dùng trọng thủ đánh chết nhà sư giám quản Hương Tích trù và năm tăng nhân khác có hiềm khích với y. Cả chùa náo loạn, phương trượng phái vài chục cao thủ đi bốn phương tìm kiếm nhưng khắp Giang Nam, Giang Bắc cũng không thấy tung tích y đâu.”

Vì việc này mà các nhà sư vai vế cao trong chùa tranh chấp, người nọ đổ lỗi cho người kia, thủ tọa La Hán đường là Khổ Tuệ thiền sư giận dữ bỏ đi, khai sáng phái Thiếu Lâm Tây Vực, ba người Phan Thiên Canh, Phương Thiên Lao, Vệ Thiên Vọng chính là đồ tử đồ tôn của Khổ Tuệ thiền sư. Cũng tại thế mà võ học chùa Thiếu Lâm bị suy đồi suốt mấy chục năm, từ đó chùa ra quy định rằng, phàm người nào không được thầy truyền thụ mà tự mình học lén võ công, nếu phát hiện ra nặng thì bị xử tử, nhẹ thì cắt hết gân mạch toàn thân cho thành phế nhân. Từ đó tới nay trong chùa phòng phạm nghiêm mật, không ai dám tự học võ công nên điều tự quy này dần dần mọi người quên lãng.

Vị lão tăng trong Tâm Thiền đường này chính là một đệ tử của thủ tọa Đạt Ma đường Khổ Trí thiền sư xưa kia. Cái cảnh thảm tử của ân sư mấy chục năm trước vẫn in đậm trong đầu, bây giờ thấy Trương Quân Bảo lại là kẻ không được thầy truyền mà học lén võ công nên vừa căm tức, vừa giận dữ. Giác Viễn giữ sách tại Tàng Kinh các, sách nào cũng đọc qua, giật mình nhớ lại câu chuyện này, mồ hôi lạnh chảy ướt đẫm lưng, kêu lên:

– Lão phương trượng, cái này… cái này không trách Quân Bảo được…

Vô Sắc thiền sư cũng biết điển tích này, bước lên phía trước chắp tay hành lễ, nói:

– Sư thúc tha thứ, đây là đôi Thiết La Hán của một vị tiền bối cao tăng bản tự chế tạo, sở học quyền thuật Thiếu Lâm của Trương Quân Bảo như vậy kỳ thật không phải là tự học mà chính là vị tiền bối cao tăng này truyền thụ.

Lão tăng trong Tâm Thiền đường lớn tiếng hỏi:

– Nếu vậy thì vị tiền bối cao tăng truyền quyền thuật cho y là ai?

Vô Sắc nói:

– Đệ tử không biết, nhưng đôi Thiết La Hán này là từ trong tay đệ tử truyền ra.

Lão tăng kia lớn tiếng hỏi:

– Quả nhiên là ngươi tự tay truyền cho y?

Vô sắc nói:

– Cũng không phải, có điều đệ tử vẫn chưa nói rõ với y không được học theo công phu của Thiết La Hán, thật không trách y được.

Lão tăng kia nói:

– Bất luận thế nào, Trương Quân Bảo chính là vô sư tự học võ công Thiếu Lâm.

Vô Sắc hướng Thiên Minh phương trượng bước tới mấy bước, khom người nói:

– Đệ tử lúc trước đem một đôi Thiết La Hán tặng cho Quách nhị tiểu thư, nay Quách nhị tiểu thư tặng lại cho tiểu đệ tử bản tự Trương Quân Bảo. Mặc dù bản tự nghiêm quy không thể vô sư mà tự học võ công bản phái, nhưng Trương Quân Bảo theo Thiết La Hán học được 10 chiêu La Hán quyền trước đó chắc chắn không được cảnh báo, không biết quy củ này. Hết thảy tội lỗi đều do đệ tử mà ra, đệ tử xin nhận mọi trừng phạt, mong phương trượng tha cho y tội không biết.

Thiên Minh phương trượng trầm ngâm một hồi, nói:

– Việc này cũng thật đáng trách Vô Sắc nhưng ngươi cũng không phải cố ý vi phạm, đợi tới Đạt Ma đường thương nghị xem xử phạt thế nào. Trương Quân Bảo không bẩm báo mà tự học võ công, cùng với bản sư Giác Viễn đều có lỗi, cũng phải phân xử, đều đến Đạt Ma đường nghị xử.

Thủ tọa Đạt Ma đường Vô Tướng thiền sư hô lớn:

– Phương trượng đại sư pháp chỉ, lệnh cho ba người Vô Sắc, Giác Viễn, Trương Quân Bảo đến Đạt Ma đường nghị xử.

Vô Sắc đáp:

– Vâng!

Vô Tướng lại quát:

– Tất cả đệ tử Đạt Ma đường hãy bắt lấy Giác Viễn cùng Trương Quân Bảo.

Lập tức 18 tăng nhân đệ tử của Đạt Ma đường đều tiến lên vây quanh Giác Viễn và Trương Quân Bảo thành một vòng tròn rất lớn, cả Quách Tương cũng bị vây ở bên trong. Vị lão tăng Tâm Thiền đường lại cao giọng gay gắt tiếp:

– La Hán đường đệ tử, sao còn chưa hết sức xông lên?

Cả một trăm linh tám đệ tử La Hán đường cùng cất tiếng đáp, giọng rền vang như sấm:

– Tuân lệnh!

Họ lập tức vây thêm ba vòng nữa bên ngoài. Trương Quân Bảo chân tay lúng túng, không hiểu vì đâu, run giọng nói:

– Sư phụ, con…

Giác Viễn hơn mười năm nay đối với đứa học trò này tình như cha con, biết rằng một khi Trương Quân Bảo bị bắt, nếu không bị giết thì cũng thành phế nhân. Lại nghe thấy Vô Tướng thiền sư quát tiếp:

– Sao còn chưa động thủ, chờ đến bao giờ?

Mười tám đệ tử Đạt Ma đường cùng niệm Phật hiệu, tiến bước đi lên. Giác Viễn không còn suy nghĩ gì nữa, vội đứng tại chỗ quay luôn một vòng, hai chiếc thùng sắt vung ra, một luồng kình phong đẩy ra làm những nhà sư không ai dám tiến lên nữa. Giác Viễn lại xoay người hắt nước trong thùng đổ ào ra, rồi tiện thế bên trái múc Quách Tương, bên phải múc Trương Quân Bảo. Tiếp theo ông liên tiếp xoay 7, 8 vòng liền, hai chiếc thùng sắt được nội lực hùng hậu vô tỉ truyền vào chẳng khác nào hai chiếc lưu tinh chùy có sức nghìn cân, thiên hạ nào ai dám đỡ. Chúng đệ tử Đạt Ma đường vội tứ tán tránh ra. Giác Viễn bước lẹ như bay, gánh Quách Tương và Trương Quân Bảo chạy thẳng xuống núi. Các tăng nhân miệng hò chân đuổi, chỉ nghe tiếng xích sắt loảng xoảng mỗi lúc một xa, đuổi độ 7, 8 dặm, tiếng xích không còn nghe thấy nữa. Chùa Thiếu Lâm quy luật cực nghiêm, thủ tọa Đạt Ma đường đã ra lệnh bắt Trương Quân Bảo, tuy các nhà sư thấy đuổi không kịp nữa rồi, nhưng vẫn hết sức rượt theo. Thời gian càng lâu, cước lực càng rõ kẻ nhanh người chậm, những người khinh công kém một chút bị bỏ lại sau. Đuổi đến lúc trời tối, dẫn đầu chỉ còn 5 người đại đệ tử, trước mặt lại thấy năm ba ngã đường, chẳng biết Giác Viễn chạy theo đường nào. Đến lúc này, giá như có đuổi kịp thì 5 tăng nhân cũng không thể địch lại Giác Viễn và Trương Quân Bảo nên chỉ còn cách lủi thủi quay về chùa bẩm báo.

Giác Viễn gánh hai người chạy một mạch mấy chục dặm mới ngừng bước. Chỉ thấy nơi ông dừng chân là một vùng núi sâu, mây mù bốn bề, những đàn quạ bay về nườm nượp. Giác Viễn nội lực tuy cao nhưng qua một trận chạy bán sống bán chết như thế, gân cốt cũng rã rời đến nỗi không để đôi thùng sắt xuống được. Trương Quân Bảo và Quách Tương từ trong thùng nhảy ra, mỗi người đỡ một bên thùng từ trên vai ông xuống. Trương Quân Bảo nói:

– Sư phụ, thầy nghỉ một lát, con đi kiếm xem có gì ăn không.

Thế nhưng ở nơi núi sâu hoang vắng thế này còn có gì mà ăn được. Trương Quân Bảo đi kiếm cả nửa ngày chỉ hái được một vốc dâu dại đem về. Quách Tương nói:

– Đại hòa thượng, tôi xem các nhà sư chùa Thiếu Lâm, trừ ông và Vô Sắc thiền sư ra người nào cũng thật là quá tệ.

Giác Viễn không đáp lời. Quách Tương nói tiếp:

– Gã Côn Luân Tam Thánh kia đến chùa Thiếu Lâm, trong chùa không ai địch nổi, chỉ nhờ hai thầy trò ông đánh đuổi được y mới bảo toàn được danh dự của môn phái. Họ đã không cám ơn ông thì thôi, lại hung hăng định bắt Trương huynh đệ, không phân biệt trắng đen phải trái, thật chẳng có đạo lý nào hết.

Giác Viễn thở dài một tiếng, nói:

– Việc đó không trách lão phương trượng và Vô Tướng sư huynh được, chùa Thiếu Lâm vốn có một điều tự quy.

Nói đến đây hơi bị đứt đoạn, ông ho lên sù sụ. Quách Tương nhè nhẹ đấm lưng cho ông, nói:

– Ông mệt rồi, nằm ngủ một giấc đi, chuyện đó để từ từ kể sau cũng không muộn.

Giác Viễn thở dài:

– Đúng vậy, tôi mệt lắm.

Trương Quân Bảo đi gom một mớ củi, nhóm một đống lửa để sưởi, cả ba người ngồi dưới gốc cây to mà ngủ. Quách Tương ngủ đến nửa đêm, bỗng nghe có tiếng Giác Viễn lẩm bẩm nói một mình, hình như đang niệm kinh, mơ mơ màng màng tỉnh dậy, chỉ nghe ông ta đọc:

– … sức của người vừa mới phớt qua bên ngoài da thịt ta, ý của ta đã vào đến xương của người. Hai tay vừa đụng nhau, một khí đã thông qua rồi. Bên trái nặng ắt bên trái cũng nhẹ, bên phải đã đến rồi, bên phải nặng ắt bên phải cũng nhẹ, bên trái đã đến rồi…

Quách Tương bỗng thấy rùng mình: “Ông ta đọc không phải kinh Phật mà giống như võ học quyền kinh thì phải”.

Thấy ông ta ngưng lại một lát rồi niệm tiếp:

– … khí tựa như bánh xe, tùy chỗ nào trên cơ thể cần mà chạy đến, nếu không tới lui theo ý mình thân sẽ tán loạn, ắt sẽ bị bệnh ở hông và đùi rồi…

Quách Tương nghe đến đây trong bụng không còn nghi ngờ gì nữa, biết là ông ta đang đọc những yếu chỉ trong võ học, nghĩ thầm: “Năm trước gặp ông ta lần đầu trên đỉnh núi Hoa Sơn, đã từng nghe ông ta nói rằng từ xưa truyền lại một cuốn Kinh Lăng Già bằng chữ Phạn, trong đó có người lấy chữ Hán dịch lại, ông ta thấy có mấy trang dạy về thuật giúp người ta được thân thể khỏe mạnh nên theo đó mà tu tập, rồi dạy cho Quân Bảo, hai thầy trò không được ai dạy dỗ gì cả nhưng vô hình chung lại đạt tới mức cao thủ trong thiên hạ. Hồi đó Tiêu Tương Tử đánh ông ta một chưởng, vậy mà chính Tiêu Tương Tử lại bị trọng thương. Hôm nay thầy trò ông ta lại khiến cho Hà Túc Đạo phải cúi đầu bỏ đi, chắc cũng nhờ công lực của Cửu Dương thần công. Hiện giờ miệng ông ta lẩm bẩm tụng đọc kia, phải chăng chính là bộ kinh đó?”

Nàng nghĩ như thế, lại e làm xao động Giác Viễn, chỉ âm thầm ngồi dậy, lắng nghe kinh văn, cố gắng ghi nhớ, tự nhủ: “Nếu quả thực ông ấy đang đọc bộ Cửu Dương thần công thì những chỗ ảo diệu tinh vi, không phải chỉ một lúc mà hiểu ngay được. Chi bằng mình cứ ghi nhớ, sau này nhờ ông ta giảng lại cho cũng chưa muộn”.

Lại nghe nhà sư già đọc tiếp:

– … trước là dùng tâm để sai khiến thân mình, theo người mà không theo mình, sau sẽ đến lượt thân đi theo tâm, do mình nhưng tùy theo người. Theo mình thì sẽ vướng mắc, do người thì sẽ linh hoạt. Biết theo người thì tay mình có gang tấc, cân đo được sức của người lớn hay nhỏ, một ly một phân cũng không chạy; cân lượng của người dài ngắn, một sợi lông cũng không sai. Lúc trước tiến nhưng sau lại lùi, mọi chỗ đều ăn khớp với nhau, công phu càng lâu thì kỹ thuật càng tinh vi…

Quách Tương nghe đến đó không khỏi lắc đầu, trong bụng nghĩ thầm: “Sai rồi, sai rồi. Cha mẹ ta thường nói là khi lâm địch phải chế ngự người chứ không để người chế ngự mình. Đại hòa thượng này nói không đúng”.

Lại nghe Giác Viễn tụng tiếp:

– … người chẳng động thì ta cũng chẳng động, người vừa hơi động, ta đã động rồi. Kình tưởng như chậm chạp mà không lơi lỏng, sắp buông ra nhưng lại chưa bung, kình đứt rồi nhưng ý chưa đứt.

Quách Tương càng nghe càng thấy mù mờ, thấy Giác Viễn đọc quyền kinh yếu quyết khác hẳn với những gì nàng đã biết, nghĩ thầm: “Địch bảo mình bên Đông thì mình đi bên Đông, bảo mình qua bên Tây thì mình qua bên Tây thì có khác gì đứng yên cho người ta đánh?”

Lại nghe Giác Viễn tụng:

– Âm đáo cực thịnh, tiện tiệm chuyển suy, thiểu dương ám sinh, âm tiệm suy nhi dương tiệm thịnh, âm dương hỗ tể, hỗ sinh hỗ tể, thiểu dương sinh vu lão âm, thiểu âm sinh vu lão dương. Phàm sự bất khả cập, cực tắc dịch biến, do trọng chuyển khinh, do khinh chuyển trọng…

Quách Tương chợt ngộ ra: “Một quyền đánh ra, càng về sau kình lực càng hết, nếu muốn thêm một ly cũng không thể được, chiếu theo lời Giác Viễn tụng, tựa như sau khi kình lực đã hết bỗng nhiên lại có kình lực sinh ra, hơn nữa càng sinh càng mạnh, thật là kì lạ. Ông ấy nội công thâm hậu như vậy, chẳng lẽ là từ đạo lí đó mà ra?”

Nàng còn đang trù trừ suy nghĩ nên những gì Giác Viễn đọc tiếp nàng không nghe thấy. Dưới ánh trăng suông, bỗng nàng để ý thấy Trương Quân Bảo cũng đang xếp bằng lắng tai nghe. Quách Tương nghĩ thầm: “Không cần biết những gì ông ta đọc đúng hay không đúng, ta cứ ghi nhớ là được. Lão hòa thượng này làm chấn thương Tiêu Tương Tử, lại dọa cho Hà Túc Đạo chạy dài, đều chính mắt mình trông thấy, những gì ông ta đọc là pháp môn võ công, ắt phải có lý do cả”. Nghĩ thế nên nàng dụng tâm cố nhớ.

Nguyên Lăng Già kinh lúc đầu lưu truyền ở Thiên Trúc, lúc đó Thiên Trúc chưa chế tạo ra giấy viết nên lấy mũi kim châm khắc kinh văn lên bối diệp, Đạt Ma tổ sư từ thời Lương Vũ đế đem bối diệp từ Thiên Trúc đến trung thổ truyền vào Thiếu Lâm tự. Bối diệp không ngay ngắn đọc không tiện, tăng nhân Thiếu Lâm dịch sang tiếng Hán rồi sao chép lại lên giấy trắng, đóng thành sách, còn bối diệp tiếng Phạn thì cất vào Tàng Kinh các. Không biết lúc nào lại có một vị cao tăng viết một bộ Cửu Dương thần công vào những chỗ trống trên bối diệp. Vị cao tăng sáng tác ra bộ Cửu Dương thần công này tinh thông đạo tạng, võ kinh soạn ra thì cương nhu đều xem trọng, âm dương viện trợ, tùy cơ mà thi triển, hậu phát chế nhân, so với võ học truyền thống phái Thiếu Lâm chú trọng dương cương có phần bất đồng cho nên không dám cùng người Thiếu Lâm tự nghiên cứu thảo luận, chỉ tùy tay viết vào trong bối diệp. Hơn ngàn năm qua tăng nhân Thiếu Lâm đều đọc Lăng Già kinh bằng bản dịch tiếng Hán, không ai đọc nguyên văn chữ Phạn, bộ Cửu Dương thần công này được cất ở Tàng Kinh Các đã bao lâu rồi không một ai lật xem qua bao giờ. Giác Viễn một lần tình cờ lau dọn Tàng Kinh các, nhìn thấy chữ Hán trên bối diệp Lăng Già kinh, thấy có mấy đoạn dạy hít thở và tọa công, nói có thể làm cho cơ thể cường tráng và tránh bệnh tật nên tập theo, có thể nói là do vận mệnh ngẫu nhiên.

Giác Viễn vẫn tiếp tục đọc, thỉnh thoảng có xen vào mấy đoạn Lăng Ca, nói tới chuyện Phật Tổ lên đảo Lăng Ca thuyết pháp, là bởi Cửu Dương thần công viết xen vào Lăng Già kinh, Giác Viễn cứ thấy chữ là đọc cho nên cứ mỗi đoạn thần công lại xen lẫn với kinh Phật. Quách Tương từ nhỏ thông minh, dụng tâm ghi nhớ nhưng cũng chỉ có thể nhớ rõ hai ba phần. Mặt trăng từ từ chếch về hướng Tây, bóng người cũng dần dần dài ra, tiếng đọc kinh của Giác Viễn càng lúc càng nhỏ, âm thanh phát ra mơ hồ không rõ tiếng. Quách Tương khuyên:

– Đại hòa thượng, ông đã mỏi mệt cả ngày rồi, ngủ thêm một giấc nữa đi.

Thế nhưng dường như Giác Viễn không nghe nàng nói, vẫn tiếp tục đọc:

– … lực theo người mà mượn, khí do xương sống mà ra. Tại sao khí lại do xương sống mà ra? Bởi khí đi xuống dưới, từ hai vai thu vào trong xương sống, chảy vào eo, khí đó từ trên chạy xuống dưới vậy, nên gọi là hợp. Từ eo chạy vào xương sống, rồi ra hai cánh tay, đi ra tới tận ngón tay, khí đó từ dưới mà chạy lên trên vậy, nên gọi là khai. Hợp nên thu vào, khai nên thả ra. Biết được lẽ khai hợp, tức là biết được âm dương.

Ông ta càng tụng đọc, thanh âm càng nhỏ dần, sau cùng không còn nghe thấy gì nữa, chắc đã ngủ thiếp đi rồi. Quách Tương và Trương Quân Bảo không dám kinh động, chỉ cố gắng nhớ những kinh văn vừa mới nghe.

Thời gian trôi đi, trăng đã lặn, từ đâu đến các đàn chim bay lại làm đen cả một vùng. Lại thêm độ tàn một bữa ăn, phương Đông trời sáng dần, chỉ thấy Giác Viễn mắt nhắm nghiền, vai xuôi xuống, tĩnh tọa không động đậy, nét mặt trông như đang mỉm cười. Trương Quân Bảo khẽ nói:

– Quách cô nương có đói không? Để tôi đi kiếm củ năng để ăn nhé.

Quân Bảo vừa quay đầu lại, giật mình kinh hãi. Chỉ thấy một lão tăng gầy, cao từ sau gốc cây bước ra, chính là thủ tọa La Hán đường Vô Sắc thiền sư. Quách Tương vừa mừng vừa lo, hỏi:

– Đại hòa thượng, sao ông nhất định không bỏ cuộc, đuổi tới tận đây? Chẳng lẽ không bắt thầy trò y về chùa không được hay sao?

Vô Sắc nói:

– Thiện tai, thiện tai! Lão tăng biết lẽ phải trái, đâu phải là người chấp nhặt cái quy luật cũ từ đời trước. Lão tăng đến đây từ lúc nửa đêm, nếu như muốn động thủ, đâu có chờ đến bây giờ. Ta đến đây cũng là muốn giúp các ngươi thoát nạn này, còn sau đó sẽ về Đạt Ma đường chịu tội. Giác Viễn sư đệ, Vô Tướng sư đệ đang chỉ huy tăng chúng trong Đạt Ma đường tìm ở hướng Đông, các ngươi mau nhắm thẳng hướng Tây mà chạy.

Chỉ thấy Giác Viễn vẫn cúi đầu nhắm mắt, dường như chưa tỉnh. Trương Quân Bảo tiến lên thưa:

– Sư phụ tỉnh dậy đi, thủ tọa La Hán đường đang nói chuyện với sư phụ đó.

Giác Viễn vẫn không động đậy. Trương Quân Bảo giơ tay sờ vào trán ông ta, thấy lạnh ngắt, hóa ra đã viên tịch từ lâu rồi. Trương Quân Bảo đau đớn quá, phục xuống khóc rống lên:

– Sư phụ, sư phụ!

Thế nhưng tiếng kêu của chàng làm sao cho Giác Viễn sống lại được. Vô Sắc thiền sư chắp tay hành lễ, đọc một bài kệ:

“Bốn phương không mây phủ,
  Mọi mặt đều sáng trong,
  Gió nhẹ đưa hương tới,
  Tĩnh lặng núi thinh không.
  Hôm nay thật hoan hỉ,
  Cởi được thân mong manh.
  Không giận cũng không lo,
  Lẽ đâu không chúc khánh?

Tụng xong ông lặng lẽ bỏ đi. Trương Quân Bảo khóc lóc cả buổi, Quách Tương đứng cạnh cũng sụt sùi mãi. Tăng chúng chùa Thiếu Lâm khi viên tịch đều hỏa hóa, cho nên hai người đi kiếm cành khô thiêu pháp thân của Giác Viễn. Quách Tương nói:

– Trương huynh đệ, tăng chúng chùa Thiếu Lâm chắc chưa bỏ qua cho ngươi đâu, ngươi nên hết sức cẩn thận. Chúng ta từ biệt nhau nơi này, sau này có lúc gặp lại.

Trương Quân Bảo gạt lệ đáp:

– Quách cô nương, cô đi đâu? Cho tôi đi theo với được không?

Quách Tương thấy y hỏi mình đi đâu, trong lòng chua chát, nói:

– Ta đi chân trời góc biển, hành tung không nhất định, chính mình cũng chưa biết đi đâu. Trương huynh đệ, ngươi tuổi còn nhỏ, lại không có chút lịch duyệt giang hồ nào…

Nàng tháo chiếc vòng đeo tay đưa cho y, nói:

– Ngươi đem chiếc vòng này đến thành Tương Dương kiếm cha mẹ ta, hai ông bà ắt sẽ đối đãi với ngươi tử tế. Chỉ cần ngươi ở với cha mẹ ta thì dù tăng chúng chùa Thiếu Lâm có hung ác đến đâu cũng không dám đến tìm ngươi làm khó dễ.

Trương Quân Bảo nuốt lệ nhận chiếc vòng. Quách Tương lại nói tiếp:

– Ngươi nói với cha mẹ ta rằng ta vẫn khỏe mạnh, ông bà đừng mong đợi. Cha ta rất yêu kẻ thiếu niên anh hùng, thấy ngươi là một nhân tài thế này, không chừng sẽ thu ngươi làm đồ đệ. Em trai ta trung hậu thật thà, chắc sẽ thân thiết với ngươi lắm đấy. Chỉ có chị ta tính tình hơi nóng, mỗi khi không vừa ý ăn nói chẳng nể nang ai, nhưng chỉ cần ngươi chịu khó ngoan ngoãn vâng lời thì không sao cả.

Nàng còn nói rõ sau khi đến Tương Dương thì gặp cha mẹ nàng thế nào, nói xong nàng quay đầu đi thẳng. Trương Quân Bảo thấy trời đất mênh mông nhưng không có chỗ nào cho mình dung thân, đứng trước đống tro hỏa táng sư phụ trầm ngâm cả nửa ngày mới gánh đôi thùng sắt sư phụ để lại, thất thểu bước đi. Trong núi rừng hoang vu, một thiếu niên gầy gò lặng lẽ theo hướng Tây mà đi, lòng buồn rười rượi, nói sao cho xiết cái cảnh thân cô chiếc bóng, lênh đênh không nhà.

Đi được nửa tháng, đã đến cảnh giới tỉnh Hồ Bắc, không còn cách thành Tương Dương bao xa. Các nhà sư chùa Thiếu Lâm trước sau vẫn không đuổi kịp y chính vì Vô Sắc thiền sư có lòng che chở, cố ý dẫn tăng chúng theo hướng Đông mà tìm, thành ra hai bên càng lúc càng xa hơn. Xế trưa hôm đó y đến trước một ngọn núi lớn, thấy cây cối rậm rạp um tùm, sơn thế cực kỳ hùng vĩ, hỏi thăm những người dân quanh đó mới biết núi này tên gọi là Võ Đang. Y ngồi dưới chân núi, tựa lưng vào một hòn đá mà nghỉ, bỗng thấy một đôi nam nữ nhà quê từ con đường nhỏ bên núi đi tới. Hai người sánh vai mà đi, trông thật thân mật, rõ ràng là một đôi vợ chồng. Người đàn bà vừa đi vừa liến thoắng luôn mồm phiền trách anh chồng, người đàn ông thì chỉ cúi đầu, lặng thinh không đáp. Bỗng nghe người vợ nói với chồng:

– Huynh là một nam tử hán, đại trượng phu, lại không chịu tự mình làm ăn riêng mà đến ăn nhờ ở đậu chị và anh rể, nếu không đâu đến nỗi bị nhục nhã như thế. Vợ chồng mình còn mạnh chân khỏe tay, tay làm hàm nhai, dù rau dưa cà muối, cơm cháo qua ngày cũng được, có phải thảnh thơi không? Chứ huynh không dám tự lập ở riêng, sinh ra trên đời này cũng uổng.

Người đàn ông ậm ừ mấy tiếng, người đàn bà lại tiếp:

– Người đời có nói rằng, ngoài cái chết ra chẳng có cái gì gọi là lớn hết, chẳng lẽ không nhờ vả người khác không sống được hay sao?

Người chồng nghe vợ dồn cho một trận không dám mở lời đáp lại, cái mặt bành bạnh bây giờ tím lại. Những câu nói của người vợ từng chữ len vào tim Trương Quân Bảo: “Huynh là một nam tử hán, đại trượng phu, lại không chịu tự mình làm ăn riêng, nếu không đâu đến nỗi bị nhục nhã như thế? Người đời có nói rằng, ngoài cái chết ra chẳng có cái gì gọi là lớn hết, chẳng lẽ không nhờ vả người khác không sống được hay sao?” Y nhìn theo đôi vợ chồng nhà quê, đứng ngơ ngẩn một hồi, trong lòng trăn qua trở lại, nghĩ đến những câu của người đàn bà. Chợt thấy người đàn ông đứng thẳng người lên, không biết nói mấy câu gì với vợ mà nghe hai người cười rộ lên, tựa hồ người chồng đã quyết chí tự lập, nên cả hai đều sung sướng. Trương Quân Bảo lại nghĩ tiếp: “Quách cô nương có nói rằng bà chị cô ta tính tình nóng nảy, ăn nói không nể mặt ai. Ta đường đường là một nam tử, lẽ đâu phải hạ mình quỵ lụy người khác, cong lưng uốn gối mong được yên thân? Đến như hai người nhà quê kia còn dám hiên ngang đứng ra ở riêng, ta Trương Quân Bảo lẽ nào lại phải nép mình trong hàng rào nhà người ta, chờ người ta sai bảo?”

Y nghĩ tới đó, trong lòng đã quyết, gánh đôi thùng sắt trèo lên núi Võ Đang, kiếm một cái hang, khát thì tìm suối, đói ăn trái hoang, chăm chỉ nghiên cứu võ công các phái, trong mươi năm sau nội lực lại càng tiến bộ. Trương Quân Bảo thông minh tuyệt đỉnh, chỉ nhìn chim muông thú dữ chiến đấu mà ngộ ra võ học, lại đọc nghiên cứu Đạo Tạng, vỡ ra được phép luyện khí của đạo gia. Một ngày kia, y tại trong núi nhàn du, ngẩng lên xem mây bay, nhìn xuống ngắm nước chảy, chợt nhớ tới cái Lão Tử gọi là “nhu nhược thắng cương cường, vật cực tất phản, chính phục vi kì, thiện phục vi yêu”, ngộ ra một bộ quyền lí lấy nhu khắc cương. Y ở trong động suy nghĩ liên tiếp bảy ngày bảy đêm, bỗng nhiên quán thông được cái lẽ âm dương hỗ trợ trong võ học, vui sướng quá, ngẩng mặt lên cười một hồi dài. Chính tiếng cười này đã khai sinh ra một vị đại tông sư trước chưa có ai mà sau cũng không ai theo kịp. Những gì y tự mình tìm ra, cộng thêm với lẽ xung hư viên thông của Đạo gia, và nội công của pho Cửu Dương thần công đã khai sáng ra nền tảng cho võ công của phái Võ Đang mà nghìn năm sau vẫn còn chói lọi.

Về sau Trương Quân Bảo du ngoạn phương Bắc, đến vùng Bảo Minh, nhìn thấy ba ngọn núi tú lệ hùng vĩ, vươn lên đâm vào mây, lại nhân đã sở ngộ về võ học nên tự đặt cho mình tên hiệu Tam Phong. Đó chính là kỳ nhân Trương Tam Phong trong lịch sử võ học của Trung Quốc.

Hoa nở rồi hoa tàn, hoa tàn hoa lại nở, đã qua mấy chục năm, người thiếu niên năm nào nay đã già, cô gái hồng nhan kia tóc mai cũng đã bạc. Quách Tương đi tìm kiếm Dương Qua khắp thiên hạ mà vẫn không gặp. Cho tới năm 40 tuổi thì thành Tương Dương thất thủ, cha mẹ và người thân đều tử nạn, Quách Tương lên núi Nga Mi cắt tóc đi tu. Sau này thu nhận đồ đệ, sáng lập ra phái Nga Mi. Còn Hà Túc Đạo sau khi đại bại tại chùa Thiếu Lâm thì theo đúng lời thề, không bước chân vào Trung Nguyên nữa. Cho tới tuổi già mới thu nhận một người đệ tử, truyền dạy cầm, kỳ và võ học, mở ra môn phái Côn Luân. Võ lâm sau đó Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Côn Luân là hưng vượng hơn cả. Quách Tương vốn dòng dõi gia học uyên thuyên, luyện tập nhiều môn nên đệ tử của phái Nga Mi võ công hết sức phức tạp và tinh xảo. Thiếu Lâm cội nguồn lâu năm, Vô Sắc thiền sư hôm ở núi hoang lại nghe được Giác Viễn đọc một phần Cửu Dương thần công, sau này nghiên cứu và truyền dạy lại cho các đệ tử Thiếu Lâm, góp phần nâng cao nội công của Thiếu Lâm lên rất nhiều. Còn Côn Luân mặc dù ở tận Tây Vực, nhưng do tổ sư phái này văn võ toàn tài, cho nên môn hạ sau này đều văn võ kiêm toàn, nho nhã hết sức.

 Trang trước Trang sau 
avatar
  Subscribe  
Thông báo về