Hồi 4: Tọa đấu

Nghi Lâm lại nói tiếp:

– Khi ấy Lệnh Hồ đại ca đáp: “Tối hôm qua ở trong sơn động tại hạ đã dùng hết sức mà võ công không bằng ngươi thì khi nào dám nói tới chuyện kiếm hạ lưu tình cho ai?” Ðiền Bá Quang cười khanh khách nói: “Lúc Lệnh Hồ huynh cùng vị tiểu ni cô đây ẩn nấp ở trong sơn động, tiểu ni cô sơ sẩy gây nên tiếng động bị Ðiền mỗ phát giác, còn Lệnh Hồ huynh vẫn nín hơi ngừng thở, Ðiền mỗ chẳng khi nào ngờ tới còn có người khác ở bên. Giả tỷ Lệnh Hồ huynh chờ một tý nữa rồi bất ngờ đâm một kiếm thì nhất định Ðiền mỗ phải uổng mạng. Lệnh Hồ huynh ơi! Lệnh Hồ huynh nào phải đứa nhỏ 11, 12 tuổi mà lại không biết lẽ đó? Ðiền mỗ biết Lệnh Hồ huynh đường đường là đấng trượng phu, không muốn dùng thủ đoạn ám toán, vì thế mà Lệnh Hồ huynh chỉ phóng kiếm đâm lướt nhẹ trên bả vai Ðiền mỗ”.

Ðịnh Dật hỏi:

– Ðiền Bá Quang nói vậy thì Lệnh Hồ Xung bảo sao?

Nghi Lâm đáp:

– Lệnh Hồ đại ca nói: “Nếu tiểu đệ chờ thêm một lát nữa thì tiểu cô nương này há chẳng bị Ðiền huynh làm ô nhục ư? Tiểu đệ nói rõ cho Ðiền huynh biết, dù tiểu đệ thấy mặt ni cô là tức mình rồi nhưng dù sao phái Hằng Sơn cũng là một trong Ngũ Nhạc kiếm phái, để Ðiền huynh làm ô nhục thì không thể dung thứ được”. Ðiền Bá Quang cười hỏi: “Nói vậy thì nói, song nếu Lệnh Hồ huynh chỉ cần đâm sâu nhát kiếm đó thêm ba bốn tấc là Ðiền mỗ sẽ thành tàn phế, sao Lệnh Hồ huynh vừa đâm tới đã rút tay về ngay?” Lệnh Hồ đại ca đáp: “Tiểu đệ là đệ tử phái Hoa Sơn, có lý đâu lại dùng thủ đoạn ám toán thương nhân? Ðiền huynh đã phóng đao đâm vào vai tiểu đệ thì tiểu đệ cũng đâm trả một kiếm vào vai, thế là hòa rồi. Nhược bằng còn tỷ dấu nữa thì cũng tỷ đấu một cách đường đường chính chính, không ai chiếm phần tiện nghi của ai”. Ðiền Bá Quang cười khanh khách nói: “Hay lắm! Hay lắm! Lệnh Hồ huynh lại đây, tiểu đệ kết bạn với Lệnh Hồ huynh! Uống một chung đã!”š

Nghi Lâm nói tới đây ngừng lại thì Ðịnh Dật thúc giục:

– Sao người không kể hết đi?

Nghi Lâm dạ một tiếng kể tiếp:

– Lệnh Hồ đại ca nói: “Võ công thì tiểu đệ không bằng Ðiền huynh, nhưng tửu lượng thì chắc Ðiền huynh kém rồi”. Ðiền Bá Quang hỏi: “Có thật tửu lượng tiểu đệ không bằng Lệnh Hồ huynh chăng? Cái đó chưa chắc. Bây giờ chúng ta lại đấu rượu, mỗi người hãy uống mười bát lớn trước”. Lệnh Hồ đại ca chau mày nói: “Ðiền huynh! Tiểu đệ nghĩ rằng Ðiền huynh là một tay hảo hán không thèm chiếm phần tiện nghi hơn người thì tiểu đệ mới cùng Ðiền huynh đấu rượu, ngờ đâu tiểu đệ thất vọng quá”.

Nghi Lâm nói tới đây thở phào một cái, cô kể tiếp:

– Ðiền Bá Quang lác mắt nhìn Lệnh Hồ đại ca, hỏi: “Sao Lệnh Hồ huynh lại bảo Ðiền mỗ chiếm phần tiện nghi?” Lệnh Hồ đại ca đáp: “Ðiền huynh đã biết tiểu đệ rất ngán bọn ni cô, thấy họ là trong người khó chịu, ăn uống cũng không thích nữa thì còn đấu rượu với Ðiền huynh sao được?” Ðiền Bá Quang lại cười, nói: “Lệnh Hồ huynh! Ðiền mỗ biết Lệnh Hồ huynh tìm thiên phương bách kế để cứu vị tiểu ni cô này, song Ðiền mỗ quý sắc đẹp như tính mạng. Ðiền mỗ đã thấy vị tiểu ni cô này xinh đẹp như thế thì dù Lệnh Hồ huynh có nói gì Ðiền mỗ cũng không buông tha đâu. Nếu Lệnh Hồ huynh muốn Ðiền mỗ buông tha y thì phải chịu một điều kiện”. Lệnh Hồ đại ca đáp: “Ðược rồi, Ðiền huynh cứ nói đi, dù trên có núi đao, dưới có vạc dầu, Lệnh Hồ Xung này cũng mạnh dạn mà nhận. Nếu chau mày thì không phải là hạng hảo hán”.

Nghi Lâm cặp mắt mơ màng, mặt ửng hồng, nàng kể tiếp:

– Ðiền Bá Quang cười ha hả, rót đầy chén rượu vào hai bát, nói: “Lệnh Hồ huynh uống bát rượu này đi rồi ta hãy nói chuyện”. Lệnh Hồ đại ca bưng bát rượu lên uống một hơi cạn sạch, rồi giơ bát lên nói: “Cạn hết rồi đây!” Ðiền Bá Quang cũng uống một chung rượu rồi nói: “Lệnh Hồ huynh! Tiểu đệ đã là bạn với Lệnh Hồ huynh thì nên theo lề luật giang hồ, tức là không được trêu vợ bạn. Nếu Lệnh Hồ huynh chịu lấy tiểu ni cô này…”

Nghi Lâm nói tới đây hai má ửng hồng, cúi đầu xuống, thanh âm cô mỗi lúc một nhỏ, sau chỉ còn như tiếng muỗi kêu, người ngoài khó lòng nghe được. Ðịnh Dật vỗ tay xuống bàn hỏi:

– Ngươi nói nhăng gì lắm thế? Càng nói càng giống hạng hạ lưu. Rồi sau sao nữa?

Nghi Lâm khẽ đáp:

– Gã Ðiền Bá Quang miệng còn nói nhiều câu hồ đồ. Hắn cười hì hì nói tiếp: “Bậc đại trượng phu một lời đã nói bốn ngựa không theo, huynh ưng thuận lấy cô… lấy cô làm vợ thì tiểu đệ lập tức buông tha và còn xin lỗi nữa. Ngoài điều kiện đó thì không còn cách nào khác”. Lệnh Hồ đại ca “hứ” một tiếng rồi đáp: “Ðại huynh muốn tiểu đệ xúi quẩy cả đời hay sao? Vụ này đừng nói tới nữa!” Ðiền Bá Quang còn nói: “Đã để đầu tóc thì không phải ni cô” và nhiều câu đệ tử phải bịt tai không nghe nữa. Lệnh Hồ đại ca nói: “Im miệng đi! Ðiền huynh còn nói giỡn những câu chán tai nữa thì chúng ta lại quyết một trận tử chiến”. Hai người lại uống rượu một lúc, sau đó Lệnh Hồ đại ca cười nói: “Ðứng đánh nhau thì tiểu đệ không bằng Ðiền huynh, nhưng ngồi đánh thì Ðiền huynh không phải là đối thủ của tiểu đệ đâu”.

Mọi người lúc trước đã được nghe Nghi Lâm thuật chuyện Ðiền Bá Quang chỉ ngồi yên trên ghế đón tiếp 17, 18 chiêu thế công cực kỳ lợi hại của Ðịa Tuyệt đạo trưởng thì hắn tài tình đến thế nào ai chẳng hiểu rõ, thế mà bây giờ Lệnh Hồ Xung dám bảo y nếu ngồi đánh thì Ðiền Bá Quang phải thua thì chẳng qua chỉ là câu nói khích. Hà Tam Thất gật đầu nói:

– Gặp phải tên ác đồ dâm tặc như vậy, trước hết trêu chọc cho hắn nổi nóng lên rồi hãy thừa cơ hạ thủ, đó cũng là một diệu kế.

Nghi Lâm lại nói:

– Nhưng Ðiền Bá Quang sau khi nghe Lệnh Hồ đại ca nói mấy câu đó hắn không nổi nóng, chỉ cười ha hả đáp: “Lệnh Hồ huynh! Ðiền Bá Quang này khâm phục Lệnh Hồ huynh ở chỗ Lệnh Hồ huynh là người có kiến thức, có đởm lược, có hào khí. Còn về võ công của Lệnh Hồ huynh thì tiểu đệ không coi vào đâu”. Lệnh Hồ đại ca nói: “Lệnh Hồ Xung này có khâm phục Ðiền huynh là ở chỗ đứng lên phóng khoái đao chứ không phải ở chỗ Ðiền huynh ngồi mà thi triển đao pháp đâu nhé!”

Nghi Lâm nói đến đây ngừng lại, mọi người nóng nghe toan thúc giục thì cô lại kể tiếp:

– Ðiền Bá Quang cười lớn hơn, nói: “Thế thì Lệnh Hồ huynh hãy còn có chỗ chưa rõ. Thuở nhỏ Ðiền mỗ bị bệnh, phải ngồi mà luyện đao pháp hai năm nên cách ngồi đánh nhau Ðiều mỗ coi như trò chơi. Vừa rồi Ðiền mỗ biết lão mũi trâu phái Thái Sơn kia là tay chiết chiêu rất lão luyện nên cũng không dám coi thường lão. Chỉ là Ðiền mỗ ngồi sử đao đã quen rồi nên chẳng buồn đứng dậy nữa. Thế thì chuyện ngồi đánh Lệnh Hồ huynh bằng tiểu đệ thế nào được?” Lệnh Hồ đại ca nói: “Ðiền huynh, trái lại Ðiền huynh không biết rõ đó thôi. Ðiền huynh bất quá vì thuở nhỏ mắc bệnh ở chân nên phải ngồi luyện đao pháp hai năm. Về công phu khác tiểu đệ không bằng Ðiền huynh đã đành, nhưng ngồi mà sử kiếm thì Ðiền huynh không bằng đâu, vì ngày nào tiểu đệ cũng ngồi mà luyện kiếm”.

Nghi Lâm nói tới đây, mọi người đều hướng mục quang về phía Lao Ðức Nặc như để dò xem câu đó có thực không. Mỗi người đều tự hỏi:

– Trong võ công phái Hoa Sơn làm gì có môn ngồi mà luyện kiếm?

Lao Ðức Nặc lắc đầu cười nói:

– Ðại sư ca gạt hắn đấy, tệ phái không có môn kiếm pháp đó.

Nghi Lâm nói:

– Ðiền Bá Quang lộ vẻ kinh dị hỏi: “Quả có chuyện đó ư? Tiểu đệ không phải là hạng cô độc, sao lại không biết? Bây giờ tiểu đệ muốn biết phép đánh kiếm ngồi… của phái Hoa Sơn ra sao”. Lệnh Hồ đại ca đáp: “Kiếm pháp này không phải do ân sư truyền thụ cho tiểu đệ mà là chính tiểu đệ đã sáng chế ra nó”. Ðiền Bá Quang nghe nói biến sắc, đáp: “Té ra là thế! Lệnh Hồ huynh là bậc đại tài, khiến cho tiểu đệ khâm phục vô cùng!”

Mọi người đều biết Ðiền Bá Quang sở dĩ thay đổi sắc mặt là vì người trong võ lâm muốn sáng chế ra một đường quyền pháp hay kiếm pháp đâu phải chuyện dễ dàng, nếu không phải là tay võ công cao cường, lại tài trí hơn người thì khó mà dám đi vào đường khác để sáng chế những chiêu thức mới. Tỉ như Hoa Sơn là một phái lớn nổi tiếng đã mở phái mấy trăm năm, bao nhiêu chiêu thức võ công của phái này đã trải qua hàng vạn lần rèn luyện mà muốn biến đổi một chút cũng khó khăn vô cùng, chứ đừng nói đến chuyện sáng chế ra một bộ kiếm pháp mới. Lao Ðức Nặc cũng bụng bảo dạ:

– Té ra đại sư ca đã ngấm ngầm sáng lập ra một thứ kiếm pháp, thế mà sao y không nói với sư phụ? Chẳng lẽ y muốn tự mình dựng ra một môn hộ riêng biệt? Phải rồi, chắc y bị sư phụ trách phạt, đánh đòn nhiều lần rồi phân tâm, có ý muốn thoát ly phái Hoa Sơn để khỏi chịu nhiều điều khuất phục.

Bỗng Nghi Lâm thở dài nói:

– Lúc ấy Lệnh Hồ đại ca cười hì hì đáp: “Kiếm pháp này khó ngửi lắm, có chi mà đáng bội phục?” Ðiền Bá Quang kinh dị hỏi: “Tại sao lại khó ngửi?” Ðệ tử rất lấy làm kỳ vì kiếm pháp chỉ có cao minh hay không chứ làm gì có khí vị mà khó ngửi, bỗng nghe Lệnh Hồ đại ca nói tiếp: “Chẳng giấu gì Ðiền huynh, mỗi buổi sáng tiểu đệ đi cầu, ngồi trong nhà xí thấy ruồi nhặng bay qua bay lại rất khó chịu, thế rồi tiểu đệ cầm kiếm lên đâm ruồi nhặng. Ban đầu không đâm trúng, lâu dần chiêu thức sinh ra tuyệt xảo, mỗi lần phóng kiếm đều đâm trúng ruồi nhặng. Công việc này lâu ngày đi đến chỗ tâm thần lĩnh hội, rồi từ chỗ dùng kiếm đâm nhặng đi tới chỗ sáng chế ra một thứ kiếm pháp. Kiếm pháp này thi triển lúc ngồi đi cầu, như vậy khí vị há chẳng khó ngửi ư?” Y nói tới đây đệ tử không nhịn được phải phì cười, vì Lệnh Hồ đại ca thật là tay hoạt kê đại tài. Nhưng Ðiền Bá Quang nghe xong tái mặt hỏi: “Lệnh Hồ huynh! Tiểu đệ coi Lệnh Hồ huynh là bạn mà Lệnh Hồ huynh nói thế là khinh khi tiểu đệ như ruồi nhặng phải không? Vậy xin lĩnh giáo mấy chiêu”.

Mọi người nghe đắn đây đều ngấm ngầm gật đầu. Ta nên biết rằng những tay cao thủ tỷ võ quyết thắng chỉ sơ hở một chút là xảy ra tai hại rất nhiều. Lòng dạ nóng nảy, thụ động một chút là bị thua mấy thành. Lệnh Hồ Xung nói vậy tất nhiên là để chọc giận đối phương, Ðiền Bá Quang nghe gã nói thế mà nổi giận tức là trúng kế một phần. Ðịnh Dật hỏi:

– Rồi sau sao nữa?

Nghi Lâm đáp:

– Lệnh Hồ đại ca cười khà khà nói: “Khi tại hạ luyện đường kiếm pháp này tưởng chỉ là một trò chơi, tuyệt không tính gì đến chuyện quyết thắng trong cuộc tranh đấu. Xin Ðiền huynh đừng hiểu lầm, dù tiểu đệ lớn mật đến đâu cũng chẳng khi nào dám coi Ðiền huynh như ruồi nhặng trong cầu tiêu”. Ðệ tử nghe Lệnh Hồ đại ca nói vậy không nhịn được phải bật cười. Ðiền Bá Quang lại càng tức giận, rút đơn đao ra để xuống bàn nói: “Ðược rồi, trước mắt mọi người đây, chúng ta thử tỷ đấu một keo”. Ðệ tử thấy cặp mắt hắn chiếu ra những tia sáng hung dữ thì trong lòng hồi hộp vô cùng. Hiển nhiên Ðiền Bá Quang đã nổi sát khí, muốn ra tay giết Lệnh Hồ đại ca ngay tức khắc. Bỗng nghe Lệnh Hồ đại ca lên tiếng: “Ngồi mà sử đao kiếm Ðiền huynh nhất định chưa có công phu cao thâm bằng tiểu đệ. Lệnh Hồ Xung này bữa nay mới kết bạn với Ðiền huynh, sao lại gây tổn thương hòa khí giữa đôi ta được?”

Ðịnh Dật ngắt lời:

– Lệnh Hồ Xung nói vậy thì Ðiền Bá Quang bảo sao?

Nghi Lâm đáp:

– Ðiền Bá Quang chưa kịp nói gì Lệnh Hồ Xung đại ca lại nói tiếp: “Hơn nữa Lệnh Hồ Xung này đường đường là một bậc đại trượng phu, khi nào chịu dùng chỗ sở trường của mình để chiếm phần tiện nghi”. Ðiền Bá Quang nói: “Ðây là Ðiền mỗ cam nguyện như vậy, không thể bảo Lệnh Hồ huynh chiếm phần tiện nghi của Ðiền mỗ được”. Lệnh Hồ đại ca nói: “Ðiền huynh nói vậy thì nhất định đòi tỷ thí hay sao?”. Ðiền Bá Quang đáp ngay: “Nhất định tỷ thí”. Lệnh Hồ đại ca hỏi lại: “Ðiền huynh nhất định ngồi để tỷ thí ư?” Ðiền Bá Quang đáp: “Phải rồi! Nhất định ngồi để tỷ thí”. Lệnh Hồ đại ca nói: “Ðã thế chúng ta phải đính ước với nhau một điều là trước khi quyết định thắng bại, ai đứng lên trước người ấy phải chịu thua”. Điền Bá Quang nói: “Được!” Lệnh Hồ đại ca lại hỏi: “Thua thì làm sao nhỉ?” Ðiền Bá Quang hỏi lại: “Lệnh Hồ huynh tính thế nào?” Lệnh Hồ đại ca đáp: “Ðể tiểu đệ nghĩ xem đã… Ðược rồi! Thứ nhất, nếu Điền huynh thua thì phải bái vị tiểu ni cô này làm sư phụ, từ nay có gặp thì không được tỏ thái độ vô lễ bất luận bằng lời nói hay bằng hành động, và phải khom lưng thi lễ nói: ‘Tiểu sư phụ, đệ tử là Ðiền Bá Quang xin bái kiến sư phụ'”. Ðiền Bá Quang hừ một tiếng rồi hỏi: “Sao Lệnh Hồ huynh biết chắc Ðiền mỗ phải thua? Trường hợp Lệnh Hồ huynh bị thua thì sao?” Lệnh Hồ Xung đáp: “Tiểu đệ cũng vậy. Ai thua phải thay đổi sư môn, quy đầu làm môn hạ phái Hằng Sơn, tức là đồ tôn của lão sư thái và là đồ đệ của tiểu ni cô này”.

Nghi Lâm ngừng lại một chút rồi hỏi:

– Sư phụ! Sư phụ thử nghĩ coi, Lệnh Hồ đại ca nói vậy có buồn cười không? Ðệ tử thu họ làm đồ đệ thế nào được?

Cô nói tới đây, trên môi thoáng qua một nụ cười. Nguyên cô vẫn đầy vẻ âu sầu, bây giờ cô tủm tỉm cười càng tăng thêm vẻ đẹp. Ðịnh Dật đáp:

– Bọn hán tử trên giang hồ câu gì mà chúng chẳng dám nói, sao ngươi lại tưởng là thật? Ðây cũng là Lệnh Hồ Xung muốn chọc giận Ðiền Bá Quang.

Mụ nói tới đây ngẩng đầu lên, lim dim cặp mắt tự hỏi:

– Gã Lệnh Hồ Xung dùng kế gì mà thắng được Ðiền Bá Quang? Nếu gã tỷ võ thua thì nuốt lời thế nào cho trôi được? Mụ nghĩ tới đây, tự biết trí lực mình so với hạng vô lại lưu manh kia hãy còn kém xa nên chẳng buồn nghĩ nữa cho điên đầu. Mụ hỏi:

– Ðiền Bá Quang trả lời thế nào?

Nghi Lâm đáp:

– Ðiền Bá Quang thấy Lệnh Hồ đại ca nói ra vẻ ăn chắc không sợ hãi gì thì hắn lộ vẻ ngần ngừ. Ðệ tử nhận thấy hắn ra chiều nao núng, dường như hắn tự nhủ: “Hay là Lệnh Hồ Xung ngồi sử kiếm quả nhiên có chỗ sở trường hơn người?” Lệnh Hồ đại ca lại nói khích: “Nếu Ðiền huynh quyết quy đầu vào làm môn hạ phái Hằng Sơn thì chúng ta tỷ đấu làm chi nữa?” Ðiền Bá Quang tức giận nói: “Lệnh Hồ huynh đừng nói nhăng! Ðược rồi, chúng ta cứ như thế, kẻ nào thua là phải bái tiểu ni cô đây làm sư phụ”. Ðệ tử nói: “Tiểu ni không thể thu nạp các vị làm đồ đệ được, vì công phu kém cỏi không xứng đáng, hơn nữa sư phụ tiểu ni không chấp thuận… Ðồ đệ phái Hằng Sơn chỉ toàn là ni cô… khi nào lại…” Lệnh Hồ đại ca xua tay ngắt lời: “Ta cùng Ðiền huynh đã thương lượng và quyết định rồi, sư muội không thu nhận thế nào được.” Y quay lại nhìn Ðiền Bá Quang nói: “Ðiều thứ hai là người thua phải vung đao lên chặt một cái cho thành thái giám”. Sư phụ, không hiểu y nói vung đao một cái để làm thái giám là nghĩa gì?

Nghi Lâm hỏi vậy, mọi người đều cười ồ. Ðịnh Dật cũng không nhịn được, phải phì cười, đáp:

– Ðó là những lời nói thô bỉ của bọn lưu manh. Hài tử, ngươi đã không hiểu thì đừng hỏi nữa, cái đó xấu lắm.

Nghi Lâm nói:

– Trời ơi, té ra là lời nói thô bỉ. Ðệ tử tưởng đó là quan thái giám của đức Hoàng đế, chẳng có gì tồi tệ. Ðiền Bá Quang nghe Lệnh Hồ đại ca nói thế liền liền lườm y hỏi: “Lệnh Hồ huynh! Lệnh Hồ huynh nắm chắc được phần thắng không?” Lệnh Hồ đại ca đáp: “Cái đó đã hẳn. Ðứng mà đánh nhau thì Lệnh Hồ Xung này đứng vào hàng thứ 39 trong võ lâm thiên hạ, còn ngồi đánh thì tiểu đệ đứng vào hạng nhì”. Ðiền Bá Quang nổi tính hiếu kỳ hỏi lại Lệnh Hồ đại ca: “Lệnh Hồ huynh đứng hạng nhì, vậy hạng nhất là ai?” Lệnh Hồ đại ca đáp: “Hạng nhất là giáo chủ ma giáo Ðông Phương Bất Bại”.

Nghi Lâm vừa nhắc tới tám chữ “Giáo chủ ma giáo Ðông Phương Bất Bại” thì vẻ mặt mọi người đều biến đổi. Nghi Lâm phát giác ra bầu không khí trong sảnh đường đột nhiên có điều khác lạ thì cô vừa ngạc nhiên, vừa sợ hãi. Cô cho là mình ăn nói lầm lẫn liền hỏi Ðịnh Dật:

– Sư phụ, câu đó có đúng không?

Ðịnh Dật đáp:

– Ngươi đừng nhắc đến tên hiệu người đó nữa, hãy nói cho ta hay Lệnh Hồ Xung bảo vậy thì Ðiền Bá Quang phản ứng ra sao?

Nghi Lâm đáp:

– Ðiền Bá Quang gật đầu nói: “Các hạ bảo Ðông Phương Bất Bại giáo chủ là đệ nhất thì tại hạ không dám nói gì, còn câu các hạ liệt mình vào hàng thứ nhì thì e rằng có điều khoác lác. Chẳng lẽ các hạ lại thắng cả tôn sư là Nhạc tiên sinh nữa hay sao?” Lệnh Hồ đại ca nhắc lại: “Tiểu đệ nói đây là đánh ngồi, còn đánh đứng thì gia sư đứng vào hàng thứ sáu mà tiểu đệ ở mãi thứ 39, tức là hãy còn kém xa lão nhân gia”. Ðiền Bá Quang gật đầu đáp: “Té ra là thế. Vậy đánh đứng thì tại hạ ở hàng thứ mấy? Ai là người đứng ra xếp hạng như vậy?” Lệnh Hồ đại ca đáp: “Ðây là một điều rất bí mật. Ðiền huynh, hai chúng ta là chỗ ý hợp tâm đầu, tiểu đệ nói cho đại huynh nghe, đại huynh cũng chớ tiết lộ ra ngoài, vì vụ này có thể gây ra một trường sóng gió khủng khiếp trong võ lâm. Ba tháng trước đây, năm vị tôn sư chưởng môn Ngũ Nhạc kiếm phái có cuộc tụ họp ở Hoa Sơn, bình luận đến những danh thủ võ lâm hiện nay ai hơn ai kém. Năm vị tôn sư lúc cao hứng lên liền đem những tay nổi tiếng ra sắp đặt thứ bậc. Ðiền huynh, tiểu đệ không dám nói dối, năm vị tôn sư thóa mạ Ðiền huynh nhân phẩm không đáng một đồng xu, còn võ công thì các vị nhận xét rất đúng về đứng đánh thì Ðiền huynh được xếp vào hạng 14”.

Thiên Môn đạo nhân và Ðịnh Dật sư thái đều lớn tiếng:

– Lệnh Hồ Xung nói láo, làm gì có chuyện đó?

Nghi Lâm đáp:

– Ðây nguyên là Lệnh Hồ đại ca muốn gạt Ðiền Bá Quang. Hắn nửa tin nửa ngờ, thủng thẳng đáp: “Chưởng môn Ngũ Nhạc kiếm phái đứng vào hàng lãnh tụ võ lâm, một tiếng khen của các vị lão gia cũng đủ vinh hoa rồi. Ðiền Bá Quang này mà được liệt vào hàng thứ 14, ha ha… thật là quá khen vậy! Lệnh Hồ huynh! Lệnh Hồ huynh đã thi triển kiếm pháp thúi không ngửi được trước mặt năm vị lão gia chưa? Nếu không thì các vị biết đâu mà xếp Lệnh Hồ huynh vào hàng thứ hai được?” Lệnh Hồ đại ca cười đáp: “Kiếm pháp này đem thi triển trước mặt bất cứ một ai cũng là bất nhã, khi nào còn đưa cái thúi ấy ra trước mặt năm vị tôn sư? Tư thế kiếm pháp đó tuy khó coi nhưng lợi hại phi thường, Lệnh Hồ Xung này đã từng đàm luận với những bậc cao nhân trong các tà phái, ma giáo, ai cũng công nhận ngoài Ðông Phương Bất Bại không còn người nào địch lại được. Nói cho phải thì kiếm pháp này tuy tinh thâm nhưng ngoài vụ ngồi đi tiêu để đâm ruồi nhặng thì không còn có chỗ thực dụng nào khác. Ðiền huynh thử nghĩ coi, lúc người ta động thủ tỷ võ thì còn có ai lại ngồi yên bất động bao giờ? Nguyên hiện tại Ðiền huynh cùng tiểu đệ tuy có giao ước ngồi mà tỷ đấu nhưng đến lúc Ðiền huynh thua rồi, tất nhiên thẹn quá hóa giận, đứng lên động thủ. Ðiền huynh ở thứ bậc mười bốn mà đánh với tiểu đệ thứ ba mươi chín thì chỉ chém một đao là hạ sát được tiểu đệ một cách dễ dàng, thế cho nên tiểu đệ mới nói rằng Ðiền huynh đứng thứ 14 trong thiên hạ là sự thực, còn tiểu đệ đứng thứ hai chỉ là hư danh, chẳng có chi đáng kể”.

Nghi Lâm lại nói tiếp:

– Ðiền Bá Quang hắng giọng một tiếng rồi nói: “Lệnh Hồ huynh! Lệnh Hồ huynh đừng mồm năm miệng mười nữa. Ðiền mỗ chỉ hỏi sao Lệnh Hồ huynh biết ngồi đánh Ðiền mỗ phải thua và hơn nữa lại biết Ðiền mỗ thẹn quá hóa giận đứng lên để giết Lệnh Hồ huynh?” Lệnh Hồ đại ca đáp: “Nếu Ðiền huynh sau khi thua mà không giết tiểu đệ và chịu làm… thái giám cho đúng lời ước thì chẳng nói làm chi, song thế thì lại mang lấy hậu quả tuyệt tự không người nối dõi. Thôi, bất tất nói nhiẳu lời nữa, Ðiền huynh động thủ đi!”

Nghi Lâm nói tới đây ngừng lại, Ðịnh Dật nóng nảy thúc giục:

– Thế rồi sao nữa?

Nghi Lâm đáp:

– Lệnh Hồ đại ca vừa dứt lời đã vung tay một cái, những hồ rượu cùng bát chén trên bàn bay tung đi. Hai người ngồi đối diện, một người tay cầm đốc đao còn một người tay nắm chuôi kiếm. Lệnh Hồ đại ca hô lên: “Ra chiêu đi! Ai đứng dậy hoặc nhổm mông lên khỏi ghế là thua đó”. Ðiền Bá Quang nói: “Ðược rồi, thử xem kẻ nào đứng dậy trước…”

Nghi Lâm nói tiếp:

– Hai người toan động thủ, Ðiền Bá Quang đưa mắt nhìn đệ tử, đột nhiên cười ha hả nói: “Lệnh Hồ huynh! Ðiền mỗ phục Lệnh Hồ huynh rồi! Té ra Lệnh Hồ huynh đã ngấm ngầm đặt người mai phục. Bữa nay Lệnh Hồ huynh cố làm khó dễ với Ðiền Bá Quang này. Ðiền mỗ cùng Lệnh Hồ huynh tỷ đấu, không ai được rời khỏi ghế ngồi thì đừng nói chuyện viện trợ kéo ùa vào, mà chỉ một mình tiểu ni cô này ở sau lưng Ðiền mỗ nhấc chân cất tay không chừng cũng đủ bức bách Ðiền mỗ phải đứng dậy rồi”. Lệnh Hồ đại ca cười khanh khách nói: “Hễ một người nào nhúng tay vào giúp đỡ thì Lệnh Hồ Xung này kể là thua rồi. Tiểu ni cô! Tiểu ni cô muốn ta thắng hay bại?” Ðệ tử liền đáp: “Dĩ nhiên tiểu muội trông đợi sự thắng cuộc của đại ca. Ðại ca ngồi đánh được liệt vào hạng thứ hai trong thiên hạ thì chẳng thể nào thua hắn được”. Lệnh Hồ đại ca nói: “Hay lắm, vậy xin tiểu ni cô ra chỗ khác. Ni cô tránh càng xa càng tốt, càng xa càng tốt! Không thế thì con người đầu trọc ở trước mắt ta, đối phương chẳng cần đánh ta cũng thua rồi”. Lệnh Hồ đại ca không chờ Ðiền Bá Quang lên tiếng ngăn trở đã phóng kiếm đâm tới…

Mọi người ngồi nghe trong lòng hồi hộp. Nghi Lâm lại kể tiếp:

– Ðiền Bá Quang huơ đao lên gạt rồi cười nói: “Bội phục! Bội phục! Thật là một diệu kế để cứu cho tiểu ni cô được thoát thân. Lệnh Hồ huynh! Lệnh Hồ huynh thật cũng là giống đa tình. Có điều đây là một cuộc đấu nguy hiểm rất lớn mà Lệnh Hồ huynh phải đương đầu”.

Nghi Lâm thở phào một cái nói tiếp:

– Ðến bây giờ đệ tử mới hiểu, sở dĩ Lệnh Hồ đại ca giao ước ai đứng dậy trước là thua để đệ tử có cơ hội chạy thoát. Ðối với chỗ khổ tâm của Lệnh Hồ đại ca này đệ tử không khỏi cảm xúc và ca ngợi.

Ðịnh Dật nói:

– Những câu “giống đa tình” gì gì đó đều là những lời thô bỉ, từ đây ngươi ngoài miệng không nên nói ra mà trong lòng cũng không được nghĩ tới.

Nghi Lâm rủ cặp lông mày, đáp:

– Dạ! Té ra đó cũng là lời nói thô tục. Ðệ tử hiểu rồi!

Ðịnh Dật nói:

– Thế thì ngươi phải lập tức chạy ngay, nếu trùng trình lại một chút mà Ðiền Bá Quang giết xong Lệnh Hồ Xung thì ngươi khó lòng thoát khỏi tay hắn.

Nghi Lâm nói:

– Lệnh Hồ đại ca thúc giục lần thứ hai, đệ tử đành lạy y một lạy nói: “Ða tạ Lệnh Hồ sư huynh đã cứu mạng cho tiểu muội” rồi trở gót xuống lầu. Ðệ tử vừa xuống đến chân cầu thang thì tiếng đao kiếm trên lầu đụng nhau chát chúa. Ðiền Bá Quang bỗng quát lên một tiếng: “Trúng!”

Nghi Lâm bằng một giọng cảm xúc hơn kể tiếp:

– Ðệ tử giật mình kinh hãi, chắc là Lệnh Hồ đại ca bị trúng đao rồi, nhưng không dám lên lầu coi nữa, đành chạy ra mé bên, vượt tường trèo lên tửu lâu, nằm phục dưới mái ngói, cúi xuống nhìn qua cửa sổ thì thấy Lệnh Hồ đại ca đang cầm kiếm chiến đấu rất hăng hái nhưng khắp người y máu ra đỏ lòm, còn Ðiền Bá Quang chưa bị thương chỗ nào.

Nghi Lâm ngừng lại một giây rồi nói tiếp:

– Hai bên tỷ đấu một lúc nữa, Ðiền Bá Quang lại quát lên một tiếng “trúng”. Hắn chém một nhát vào cánh tay trái Lệnh Hồ đại ca rồi thu đao về nói: “Lệnh Hồ huynh, chiêu đao này tiểu đệ còn lưu tình đó!” Lệnh Hồ đại ca cười nói: “Tiểu đệ biết rồi. Ðiền huynh xuống tay nặng chút nữa thì cánh tay tiểu đệ phải đứt rồi”.

Nghi Lâm ngửng lên nhìn Ðịnh Dật, nói tiếp:

– Sư phụ, Lệnh Hồ đại ca đã đến thế này mà y vẫn còn cười được.

Ðịnh Dật thúc giục:

– Ngươi kể nốt đi!

Nghi Lâm tiếp tục kể:

– Ðiền Bá Quang hỏi: “Lệnh Hồ huynh còn muốn đánh nữa hay thôi?” Lệnh Hồ đại ca đáp: “Dĩ nhiên còn đánh chứ, tiểu đệ đã đứng lên đâu”. Ðiền Bá Quang nói: “Ðiền mỗ khuyên Lệnh Hồ huynh chịu thua mà đứng lên đi. Những lời ước hẹn của chúng ta vừa rồi bỏ đi không kể, Lệnh Hồ huynh bất tất phải hạ bái vị tiểu ni cô kia làm sư phụ”. Lệnh Hồ đại ca đáp: “Bậc đại trượng phu một lời nói ra cửa miệng, tứ ngựa khôn theo, có lý đâu lại thay đổi lời nói bao giờ?” Ðiền Bá Quang nói: “Ðiền mỗ đã gặp nhiều tay hán tử quật cường nhưng nhân vật như Lệnh Hồ huynh thì bữa nay mới thấy lần đầu. Thôi bây giờ thế này, chúng ta bất phân thắng bại, hai bên cùng dừng tay, được không?” Lệnh Hồ đại ca nhìn đối phương cười hì hì vẫn không nói gì, những vết thương trong người y máu tươi không ngớt nhỏ tí tách xuống sàn gác.

Nghi Lâm vẻ mặt buồn buồn kể tiếp:

– Ðiền Bá Quang liệng đao xuống toan đứng lên, đột nhiên hắn nhớ tới đứng dậy là thua. Người hắn mới liệng đi nhưng vẫn còn ngồi yên chưa rời khỏi ghế. Lệnh Hồ đại ca cười nói: “Ðiền huynh! Ðiền huynh thật là người tâm cơ mau lẹ!”

Mọi người nghe tới đây bất giác la lên một tiắng “trời ơi”, tỏ ra hối tiếc cho Lệnh Hồ Xung. Nghi Lâm lại kể tiếp:

– Ðiền Bá Quang lượm đao lên nói: “Ðiền mỗ phải sử khoái đao, nếu còn chậm lại giây lát thì vị tiểu ni cô kia sẽ bỏ trốn đi không biết đâu mà kiếm”. Ðệ tử nghe hắn bảo rượt mình thì sợ phát run, đồng thời lo cho Lệnh Hồ đại ca bị hắn hạ độc thủ, mà không biết làm thế nào. Ðệ tử chợt nhớ ra sở dĩ Lệnh Hồ đại ca phải liều mạng với hắn kéo dài cuộc đấu là vì y muốn cứu đệ tử chạy thoát, bây giờ chỉ còn cách mình tự vẫn trước mặt hai người thì Lệnh Hồ đại ca mới khỏi uổng mạng. Ðệ tử liền rút thanh kiếm gãy ở sau lưng ra toan nhào vô tửu lâu thì đột nhiên thấy Lệnh Hồ đại ca trượt một cái, cả người lẫn ghế ngã lăn xuống đất. Hai tay y chống xuống đất lồm cồm bò dậy, và chiếc ghế vẫn đè lên người y. Y bị thương rất nặng cựa quậy mãi mà không dậy được. Ðiền Bá Quang rất lấy làm đắc ý, cười hỏi: “Sao? Ngồi mà đánh Lệnh Hồ huynh đứng thứ hai trong thiên hạ, còn nằm đánh thì đứng thứ mấy?” Hắn vừa nói vừa đứng lên.

Nghi Lâm thở phào một cái nói tiếp:

– Lệnh Hồ đại ca cười khánh khách nói: “Ðiền huynh thua rồi!” Ðiền Bá Quang cười hỏi: “Lệnh Hồ huynh thua đến tồi tàn như vậy, sao còn bảo Ðiền mỗ thua?” Lệnh Hồ đại ca nằm phục dưới đất, hỏi: “Trước khi đánh nhau chúng ta đã giao ước thế nào?” Ðiền Bá Quang đáp: “Chúng ta giao ước ngồi đánh, ai đứng lên trước, đít rời khỏi ghế là… là…” Hắn nói tới đây ngập ngừng không nói thêm được nữa mà chỉ giơ ngón tay trỏ vào Lệnh Hồ đại ca. Nguyên bây giờ hắn mới tỉnh ngộ là đã bị mắc lừa. Hắn đứng lên rồi mà Lệnh Hồ đại ca chưa đứng lên, đít vẫn còn dính vào ghế ngồi, tuy trông rất thảm hại nhưng theo lời giao ước thì y thắng cuộc.

Mọi người nghe tới đây không nhịn được, phải vỗ tay cả cười, đồng thời reo lên:

– Hay lắm! Hay lắm!

Bỗng thấy Dư Thương Hải hắng giọng một tiếng rồi nói:

– Thằng tiểu tử vô lại chơi với tên dâm tặc Ðiền Bá Quang, lại dùng thủ đoạn lưu manh như vậy há chẳng làm mất thể diện danh môn chính phái ư?

Ðịnh Dật tức giận nói:

– Cái gì mà thủ đoạn lưu manh? Bậc đại trượng phu đấu trí chứ không đấu lực. Bần ni chẳng thấy trong phái Thanh Thành của lão có lấy được một tên thiếu niên anh hùng nào được như vậy.

Mụ nghe Nghi Lâm thuật chuyện Lệnh Hồ Xung đã mạo hiểm, quên mình để bảo vệ thể diện cho phái Hằng Sơn thì trong lòng xiết bao cảm kích, những nỗi căm hờn oán hận Lệnh Hồ Xung lúc trước bây giờ đã tiêu tan hết. Dư Thương Hải cười khẩy, nói móc:

– Một thiếu niên anh hùng nằm bò dưới đất thật là tuyệt đẹp.

Ðịnh Dật cũng lớn tiếng:

– Phái Thanh Thành nhà ngươi…

Lưu Chính Phong sợ hai người xảy ra cuộc xung đột vội ngắt lời, nhìn Nghi Lâm nói:

– Nghi Lâm hiền điệt, như vậy Ðiền Bá Quang có nhận thua không?

Nghi Lâm đáp:

– Ðiền Bá Quang đứng ngẩn người ra một lúc không biết làm thế nào. Lệnh Hồ đại ca lại la lên: “Tiểu sư muội phái Hằng Sơn đâu, xuống đây đi! Tiểu huynh mừng cho sư muội mới thu được một vị cao đồ”. Nguyên đệ tử nấp ở trên mái nhà thám thính y đã biết được rồi.

Nghi Lâm hắng giọng một tiếng rồi nói tiếp:

– Ðiền Bá Quang tuy là một ác nhân nhưng hắn vẫn trọng lời giao ước. Giả tỷ lúc này hắn tiến lại vung đao chém Lệnh Hồ đại ca một nhát rồi quay lại đối phó với đệ tử cũng được. Nhưng hắn lớn tiếng gọi: “Tiểu ni cô, ta nói cho cô hay, nếu lần sau ni cô còn gặp ta thì ta sẽ chém chết đó!” Ðệ tử cũng chẳng muốn thu một tên ác nhân làm đồ đệ, thấy hắn nói vậy là đúng với tâm nguyện của mình.

Ðịnh Dật hỏi:

– Thế rồi sao nữa?

Nghi Lâm đáp:

– Ðiền Bá Quang nói câu này xong, tra đao vào vỏ rồi rảo bước xuống thang lầu. Bây giờ đệ tử mới dám nhảy xuống lầu, nâng Lệnh Hồ đại ca dậy, lấy Thiên Hương Đoạn Tục Giao rịt vào vết thương cho y. Ðệ tử đếm trong người y cả lớn nhỏ có đến 13 vết thương…

Dư Thương Hải đột nhiên xen vào:

– Ðịnh Dật sư thái, bần đạo có lời cung hỉ sư thái!

Ðịnh Dật hỏi lại:

– Cái gì mà cung hỉ?

Dư Thương Hải đáp:

– Cung hỉ sư thái mới thu được một vị đồ tôn võ công trác tuyệt, danh vang thiên hạ.

Ðịnh Dật thấy Dư Thương Hải nói móc thì nổi giận đùng đùng, đập bàn đánh chát một tiếng, muốn đứng lên. Thiên Môn đạo nhân nói:

– Dư quán chủ, quán chủ nói thế không được. Chúng ta là những nhà thanh tu cửa huyền, sao lại nói giỡn một cách vô lý như thế.

Dư Thương Hải một là đuối lý, hai là rất úy kỵ Thiên Môn đạo nhân. Lão liền ngoảnh đầu ra chỗ khác vờ như không nghe tiếng. Nghi Lâm kể tiếp:

– Ðệ tử rịt vết thương cho Lệnh Hồ đại ca rồi, toan đến rịt thuốc cho Ðịa Tuyệt sư thúc nữa thì đột nhiên cầu thang lầu có tiếng bước chân. Hai người đi lên lầu đều là môn hạ phái Thanh Thành, một tên là ác nhân La Nhân Kiệt kia. Gã hết nhìn đệ tử, lại nhìn Lệnh Hồ đại ca, nhãn quang và thần sắc gã tỏ ra rất vô lễ với đệ tử.

Mọi người đều nghĩ rằng:

– La Nhân Kiệt đột nhiên thấy Lệnh Hồ Xung đầy người máu me cùng ngồi trong tửu lầu với một vị ni cô dĩ nhiên cho là một chuyện chướng mắt thì thần sắc y có vẻ tỏ ra vô lễ cũng chẳng có chi là lạ.

Bỗng nghe Nghi Lâm kể tiếp:

– Lệnh Hồ đại ca đảo mắt nhìn y rồi hỏi đệ tử: “Sư muội! Sư muội có biết phái Thanh Thành sở trường về công phu nào không?” Ðệ tử đáp: “Không biết, tiểu muội chỉ nghe nói phái Thanh Thành có nhiều môn lắm”. Lệnh Hồ đại ca nói: “Ðúng thế, phái Thanh Thành có rất nhiều công phu cao minh, nhưng cao thâm nhất là một chiêu. Hà hà, thôi, chả nói nữa để khỏi tổn thương hòa khí…”

Ðịnh Dật hỏi:

– Sao ngươi không hỏi y coi là môn gì?

Nghi Lâm đáp:

– Lệnh Hồ đại ca nói tới đây trừng mắt nhìn La Nhân Kiệt thì gã hùng hổ tiến lại quát hỏi: “Ngươi bảo cao minh nhất môn gì, thử nói ta nghe!” Lệnh Hồ đại ca cười đáp: “Ta không muốn nói, nhưng là ngươi nhất định đòi ta phải nói. Chiêu đó gọi là Thí Cổ Hướng Hậu, Bình Sa Lạc Nhạn”. La Nhân Kiệt vỗ bàn quát: “Nói láo, chiêu thức gì mà thí cổ hướng hậu, bình sa lạc nhạn? Trước nay ta chưa từng nghe ai nói đến bao giờ”.

Mọi người nghe tới đây đều cười ồ. Nghi Lâm lại nói tiếp:

– Lệnh Hồ đại ca cười đáp: “Ðó là một chiêu thức giữ nhà của quý phái, sao lại không nghe ai nói tới? Ngươi quay lại để ta diễn cho mà coi”. La Nhân Kiệt biết y trào phúng liền vung quyền đánh Lệnh Hồ đại ca. Lệnh Hồ đại ca toan né tránh nhưng máu ra nhiều, không còn chút khí lực nào, người y lảo đảo rồi lại ngồi phệt xuống, y bị đánh trúng một quyền vào sống mũi, máu tươi chảy ra lênh láng.

Nghi Lâm nghiến răng kể tiếp:

– La Nhân Kiệt toan đánh quyền thứ hai, đệ tử vội đưa tay ra cản lại nói: “Không được đánh nữa! Y bị trọng thương rồi ngươi không thấy hay sao? Ngươi phũ phàng với người đã bị trọng thương thì đâu phải là hành động của anh hùng, hảo hán?” La Nhân Kiệt cất tiếng mắng liền: “Có phải tiểu ni cô thấy hắn bảnh trai mà động lòng phàm tục? Nếu tiểu ni cô không tránh ra thì ta đánh cả ngươi nữa”. Ðệ tử liền đáp: “Ngươi mà dám đánh ta thì ta tố cáo cho sư phụ ngươi là Dư quán chủ hay!” Gã đáp: “Ngươi không giữ thanh quy thì trong thiên hạ ai cũng có thể đánh được”. Gã đưa tay trái ra chụp đệ tử, đệ tử đưa tay lên gạt, không ngờ gã hạ tay, nắm lấy má bên trái đệ tử rồi cười ha hả. Ðệ tử vừa tức giận, vừa nóng nảy liền phóng ba chưởng nhưng gã tránh được hết.

Nghi Lâm nghiến răng kể tiếp:

– Lệnh Hồ đại ca nói: “Sư muội, sư muội đừng động thủ nữa. Tiểu huynh vận khí một chút nữa là xong”. Ðệ tử quay lại nhìn y thì thấy mặt y không còn chút huyết sắc. Giữa lúc ấy La Nhân Kiệt lại xông tới toan đánh y, đột nhiên y phóng chân đá một cước vào mông gã. Chiêu cước này vừa mau lẹ, vừa chuẩn đích, thật là tuyệt diệu. Gã La Nhân Kiệt đứng không vững té lộn xuống lầu.

Nghi Lâm thở phào một cái nói tiếp:

– Lệnh Hồ đại ca khẽ nói: “Sư muội, đó là chiêu số tối cao của phái Thanh Thành kêu bằng Thí Cổ Hướng Hậu, Bình Sa Lạc Nhạn đó. Thí cổ hướng hậu là chuyên để cho người phía trước đá, còn bình sa lạc nhạn thì sư muội trông đó có đúng không?” Ðệ tử muốn bật cười nhưng thấy sắc mặt y mỗi lúc một lợt lạt thì lại đau lòng, liền bảo y: “Ðại ca hãy nghỉ một lúc, đừng nói nhiều nữa”. Những vết thương trên người y lại chảy máu, hiển nhiên vì vừa rồi y dùng sức quá mạnh nên miệng vết thương lại vỡ ra.

Nghi Lâm nói tiếp:

– Gã La Nhân Kiệt bị té xuống lầu rồi lại chạy lên, tay cầm kiếm quát hỏi: “Mi có phải là Lệnh Hồ Xung ở phái Hoa Sơn không?” Lệnh Hồ đại ca cười đáp: “Những tay cao thủ quý phái thi triển chiêu thí cổ hướng hậu, bình sa lạc nhạn đến các hạ là người thứ ba… Ðừng trách…” Lệnh Hồ đại ca vừa nói vừa ho rũ đi. Ðệ tử sợ La Nhân Kiệt gia hại y liền rút kiếm đứng bên hộ vệ. La Nhân Kiệt quay lại bảo đồng bọn: “Lê sư đệ! Sư đệ đối phó với tiểu ni cô này”. Người kia gật đầu rồi rút kiếm ra đâm đệ tử, đệ tử phải vung kiếm lên gạt. Ðệ tử liếc mắt ngó qua thấy La Nhân Kiệt phóng kiếm đâm lia lịa vào Lệnh Hồ đại ca. Y phải cố sức gắng gượng giơ kiếm lên đỡ gạt, tình thế rất là nguy cấp. Lúc ấy đệ tử nghe Ðịa Tuyệt sư thúc la lên: “Dừng tay! Dừng tay! Ðây toàn là người nhà cả” nhưng La Nhân Kiệt vẫn đâm chém không ngớt. Lệnh Hồ đại ca rớt kiếm xuống đất, La Nhân Kiệt phóng kiếm dí vào trước ngực Lệnh Hồ đại ca, cười nói: “Ngươi kêu ta gia gia phái Thanh Thành ba tiếng ta sẽ tha mạng cho”. Lệnh Hồ đại ca cười hỏi: “Tại hạ kêu rồi các hạ có truyền cho tại hạ chiêu thức thí cổ hướng hậu, bình sa…” Y chưa dứt lời thì bị tên ác ôn La Nhân Kiệt đâm mạnh trường kiêm vào ngực. Gã thật là một tên lòng dạ độc ác.

Nghi Lâm nói tới đây thì những giọt lệ trong như ngọc rớt xuống má. Cô nghẹn ngào kể tiếp:

– Ðệ tử thấy tình trạng này… liền nhảy xổ vào ngăn trở, nhưng mũi kiếm nhọn của La Nhân Kiệt… đã đâm vào ngực Lệnh Hồ đại ca rồi.

Nhà hoa sảnh lặng yên như tờ. Dư Thượng Hải cảm thấy có nhiều luồng mục quang nhìn vào mình, mắt họ đầy vẻ khinh bỉ và phẫn nộ. Lão muốn nói mấy câu mà không biết nói thế nào, hồi lâu lão mới lên tiếng:

– Những câu nói của tiểu ni cô đây chưa chắc đã hoàn toàn đúng sự thực. Theo cô ta thì La Nhân Kiệt đã hạ sát Lệnh Hồ Xung, thế thì sao chính gã lại chết dưới mũi kiếm của Lệnh Hồ Xung?

Nghi Lâm đáp:

– Lệnh Hồ đại ca trúng kiếm rồi nhưng vẫn tươi cười, y khẽ bảo đệ tử: “Tiểu sư muội, ta… có một chuyện rất bí mật… nói cho tiểu sư muội nghe… Tịch Tà kiếm phổ của Phước Oai tiêu cục hiện ở…” Về sau thanh âm nhỏ quá, đệ tử nghe không rõ mà chỉ nhìn thấy y máy môi…

Dư Thượng Hải nghe Nghi Lâm nói tới Tịch Tà kiếm phổ của Phước Oai tiêu cục bất giác run lên. Lão không giữ được tự nhiên, lộ vẻ cực kỳ hoang mang, hỏi:

– Ở chỗ…

Lão muốn nói “Ở chỗ nào?”, nhưng lão lại nghĩ tự mình không nên hỏi như vậy, để người khác hỏi hay hơn. Lão rụt lưỡi lại không nói nữa, trái tim đập thình thịch không ngớt. Lão còn mong Nghi Lâm tuổi nhỏ ngây thơ tự nói toạc ra, nếu không thế thì rồi đây Ðịnh Dật sư thái sẽ vặn vẹo cô. Mụ mà biết cái mối liên quan trọng đại về kiếm phổ này thì dĩ nhiên lão không có cơ hội nào chiếm được nó nữa. Nghi Lâm lại nói tiếp:

– La Nhân Kiệt đối với pho kiếm phổ gì đó rất lộ vẻ quan tâm. Gã chạy lại bên, cúi thấp người xuống muốn nghe cho biết Lệnh Hồ đại ca nói pho kiếm phổ kia hiện ở chỗ nào. Ðột nhiên Lệnh Hồ đại ca lượm lấy thanh kiếm rớt xuống sàn, rồi y đưa lên đâm vào bụng dưới La Nhân Kiệt… Sư phụ… Té ra Lệnh Hồ đại ca đã gần chết rồi vẫn giết gã để trả thù.

Nghi Lâm thuật hết câu chuyện đã qua này, tinh thần cô không chống chọi được nữa, người cô lảo đảo mấy cái rồi ngất đi. Ðịnh Dật sư thái đưa tay ra giữ lấy Nghi Lâm, mụ nhìn Dư Thượng Hải bằng cặp mắt tức giận. Mọi người cùng lặng lẽ không nói gì, dường như để tưởng tượng cuộc chiến đấu kinh tâm động phách trên lầu Túy Tiên. Bản lãnh bọn La Nhân Kiệt chưa chắc đã có chỗ nào đặc biệt, nhưng cuộc chiến đấu biến ảo thảm khốc này là một trường thê thảm ít có trên chốn giang hồ. Nhất là câu chuyện do miệng một vị tiểu ni cô nhỏ tuổi xinh đẹp chất phác thuật lại thì dĩ nhiên không còn chút nào sai ngoa được nữa. Thiên Môn đạo nhân nhìn Ðịa Tuyệt đạo nhân hỏi:

– Sư đệ, lúc đó sư đệ có mục kích không?

Ðịa Tuyệt đạo nhân đáp:

– Cả Lệnh Hồ Xung lẫn La Nhân Kiệt đều là những tên lòng dạ độc ác, thủ đoạn tàn nhẫn. Chúng tỷ đấu rồi đi đến chỗ hai bên cùng chết.

Dư Thượng Hải ngước mắt nhìn Lao Ðức Nặc, vẻ mặt xám xanh. Lão lạnh lùng hỏi:

– Lao hiền điệt, phái Thanh Thành ta có chỗ nào đắc tội với quý phái mà Lệnh sư huynh lại vô cớ sinh sự gây hấn với phái ta?

Lao Ðức Nặc lắc đầu đáp:

– Ðệ tử không biết. Ðây là Lệnh Hồ sư ca cùng La sư huynh bên quý phái xảy chuyện tranh đấu cá nhân với nhau, chẳng có liên quan đến mối giao tình giữa hai phái Thanh Thành và Hoa Sơn cả.

Dư Thượng Hải cười khẩy, nói:

– Hừ! Không có liên quan gì? Hiền điệt chỉ chối phăng một cái là xong.

Lão chưa dứt lời thì đột nhiên có tiếng kẹt, cánh cửa sổ phía Tây bị đẩy ra, một người bay vọt vào. Mọi người trong nhà hoa sảnh đều là những tay cao thủ, ứng biến một cách rất thần tốc, rẽ sang hai bên để tránh, và người nào cũng vung quyền chưởng lên để hộ thân. Chưa một ai kịp nhìn rõ mặt người mới đến thì “cách” một tiếng, một người nữa vọt vào. Hai người nằm phục dưới đất không nhúc nhích. Họ đều mặc áo trường bào màu xanh, tức là màu áo của bọn đệ tử phái Thanh Thành. Cả hai người ở mông đít còn in rõ vết chân nước bùn. Bỗng bên ngoài cửa sổ có người lên tiếng:

– Thí cổ hướng hậu, bình sa lạc nhạn.

Dư Thương Hải lạng người đi thấp thoáng một cái, hai chưởng đánh ra, đồng thời người lão cũng chuồn ra cửa sổ. Thân pháp của lão mau lẹ phi thường, tay trái lão vịn lấy song cửa mượn đà nhảy lên nóc, chân trái lão vẫn còn đặt vào trong mái hiên, lão đã có thể nhìn khắp nơi trong một phạm vi mấy trượng. Dư Thương Hải đảo mắt nhìn bốn phía thì chỉ thấy một màu tối đen, mưa phùn phất phới chứ không có một bóng người. Lão nghĩ bụng:

– Người này nhất định còn ẩn nấp đâu đây chứ không thể trong chớp mắt đã đi xa mất hút được.

Lão biết đối phương là một tay kình địch liền rút thanh trường kiếm ra, chuyển động thân hình chạy quanh Lưu phủ một vòng.

Lúc này Thiên Môn đạo nhân, Ðịnh Dật sư thái, Hà Tam Thất, Văn tiên sinh, Lưu Chính Phong tự trọng địa vị vẫn ngồi yên, còn bọn Lao Ðức Nặc đều nhảy lên nóc nhà. Họ nhìn thấy đạo nhân người thấp lùn cầm kiếm chạy rất nhanh, trong bóng tối ánh kiếm lóe thành một đạo bạch quang huyền ảo. Ðó là Dư Thương Hải. Ai cũng ngấm ngầm bội phục khinh công tuyệt diệu của lão.

Dư Thương Hải tuy chạy rất nhanh, mà bốn phía từ nóc nhà đến vòm cây bụi cỏ, không chỗ nào qua mắt lão được. Lão chạy hết một vòng rồi lại nhảy xuống nhà hoa sảnh. Hai tên đệ tử vẫn nằm dưới đất, mông đít hai gã vẫn còn in rõ vết chân, lão tưởng như muôn ngàn người giang hồ đang đàm tiếu làm cho phái Thanh Thành phải mất mặt. Lão lật người họ lại, vừa ngó thấy chòm râu quai nón liền biết ngay là Thân Nhân Tuấn và tên kia là bạn thân của gã tên gọi Cát Nhân Thông. Lão đưa tay vỗ vào huyệt đạo dưới nách Thân Nhân Tuấn hai cái rồi hỏi:

– Ngươi bị ai đá thế?

Thân Nhân Tuấn máy miệng muốn nói nhưng không phát ra thành tiếng.

Dư Thương Hải giật mình kinh hãi. Lão vừa vỗ hai cái coi vẻ hời hợt nhưng thực ra lão đã vận nội công thượng thừa của phái Thanh Thành, thế mà những đường huyệt đạo của Thân Nhân Tuấn vẫn chưa giải khai được. Vậy dĩ nhiên công phu của đối phương còn thâm hậu hơn cả lão nhiều. Dư Thương Hải con người bé nhỏ nhưng chí phấn đấu cực kỳ mãnh liệt. Lão phát giác ra một tay kình địch lợi hại chẳng những không nản chí mà còn phấn khởi tinh thần. Lão ngấm ngầm vận nội công trút nội lực vào huyệt Linh Đài sau lưng Thân Nhân Tuấn. Sau một lúc, Thân Nhân Tuấn ú ớ la lên:

– Sư… sư phụ!

Dư Thương Hải không nói gì, tiếp tục thúc đẩy nội lực. Lúc sau Thân Nhân Tuấn lại nói:

– Ðệ tử… không nhìn thấy đối phương là ai.

Dư Thương Hải hỏi:

– Hắn hạ thủ ở đâu?

Thân Nhân Tuấn đáp:

– Ðệ tử cùng các sư đệ ra ngoài chơi, bỗng thấy sau lưng tê nhức mới biết mình bị thằng cha đểu giả nào đã hạ thủ.

Dư Thương Hải xịu mặt xuống nói:

– Y là một tay cao thủ võ lâm, không nên nói láo mắng người.

Thân Nhân Tuấn đáp:

– Xin vâng!

Dư Thương Hải nghĩ mãi không biết đối phương lai lịch thế nào. Lão thấy Thiên Môn đạo nhân ngồi trơ ra, tựa hồ không quan tâm gì đến vụ này thì bụng bảo dạ:

– Bọn Ngũ Nhạc kiếm phái như cây liền cành. La Nhân Kiệt giết Lệnh Hồ Xung, chắc lão Thiên Môn này sắp cự mình đây.

Ðột nhiên lão lại nghĩ tới kẻ hạ thủ không chừng còn ở ngoài nhà đại sảnh. Rồi lão nhìn Thân Nhân Tuấn, vẫy tay ra hiệu chạy mau ra ngoài nhà đại sảnh. Mọi người trong nhà đại sảnh đang bàn tán xôn xao. Họ đang phỏng đoán về cái chết của một đệ tử phái Thái Sơn và một đệ tử phái Thanh Thành ai đã hạ độc thủ, đột nhiên thấy Dư Thương Hải tiến vào. Con người lão lùn không đầy năm thước nhưng là một tay có khí độ võ học. Lão không giận mà cũng oai nghiêm, bao nhiêu con mắt đều đổ dồn vào lão. Dư Thương Hải đảo mắt nhìn quanh một lượt thì thấy những nhân vật trong nhà đại sảnh đều vào hàng hậu bối võ lâm. Tuy lão không biết nhiều nhưng cứ nhìn mắt họ, mười phần đã đoán ra được tám chín ai thuộc môn phái nào. Lão cho là trong bọn đệ tử đời thứ hai các môn phái này nhất định không có tay nào nội lực thâm hậu đến thế được. Nếu người kia có ở trong đám này, tất phải lộ ra là một dị nhân siêu quần xuất chúng. Dư Thương Hải ngó từng người một, đột nhiên cặp mắt sắc bén của lão chú ý đến một người. Người này hình thù cực kỳ xấu xa, da mặt co rúm lại, mà còn dán mấy miếng thuốc cao. Lưng y cao trội, đúng là một người gù. Dư Thương Hải đột nhiên nhớ tới một nhân vật, bất giác lão giật mình kinh hãi, nghĩ bụng:

– Phải chăng hắn? Nghe nói người này ở lì tại một nơi cực Bắc, khí lạnh phi thường, không bước chân vào đất Trung Nguyên và không bao giờ có giao du gì với bọn Ngũ Nhạc kiếm phái, vậy sao cũng đến tham dự tiệc rửa tay gác kiếm của Lưu Chính Phong? Nếu không phải hắn thì trong võ lâm sao lại còn có người gù mặt mũi xấu xa thứ hai này nữa? Nhược bằng chính hắn thì thật là một tay thủ đoạn cực kỳ tàn ác.

Mọi người trong nhà đại sảnh cùng Dư Thương Hải đều hướng mục quang về người lưng gù. Mấy vị tiền bối hiểu chuyện cũ trong võ lâm đều không khỏi kinh ngạc. Lưu Chính Phong vội tiến lên xá dài tận đất, nói:

– Không biết tôn giá quang lâm thành ra thiếu lễ nghinh tiếp, thật là tội đáng muôn thác.

Người lưng gù này là dị nhân ở đâu? Chàng chính là thiếu tiêu đầu Lâm Bình Chi trong Phước Oai tiêu cục. Chàng rất sợ có người nhận ra mình, ngồi cúi đầu co ro trong góc nhà đại sảnh, nếu không có Dư Thương Hải nhận ra dị dạng thì chẳng ai thèm để ý đến chàng. Bây giờ đột nhiên chàng thấy mọi người đều nhìn mình chằm chặp, lập tức đâm ra luống cuống. Chàng vội đứng lên nhìn Lưu Chính Phong đáp lễ, nói:

– Không dám! Không dám!

Lưu Chính Phong nguyên chỉ biết một tay cao thủ ở Tái Bắc, nhưng lão thấy khẩu âm chàng là người miền Nam mà tuổi còn kém nhân vật kia quá xa, bất giác lão đem lòng ngờ vực. Có điều người lưng gù mà lão biết hành động xuất quỷ nhập thần nên lão không dám phỏng đoán theo lẽ thường. Lão vẫn có vẻ cực kỳ cung kính hỏi:

– Tại hạ là Lưu Chính Phong, không dám thỉnh giáo cao tính đại danh các hạ?

Lâm Bình Chi không ngờ đến có người hỏi họ tên mình, chàng ấp úng đáp:

– Tại hạ họ Mộc…

Nguyên chữ Mộc là nửa chữ Lâm, không ngờ chàng buột miệng nói liều khiến cho mọi người ồ lên một tiếng kinh ngạc. Nguyên tay cao thủ Tái Bắc kia cũng họ Mộc. Trên đời rất ít người họ Mộc, hơn nữa đây cũng là một người lưng gù, mặt mũi xấu xa nên càng khiến cho mọi người nghi hoặc. Lưu Chính Phong lại nói:

– Mộc tiên sinh giá lâm Hành Sơn khiến cho Lưu mỗ thêm phần rạng rỡ… Không biết Tái Bắc Minh Đà Mộc đại hiệp là gì của các hạ?

Lão thấy Lâm Bình Chi tuổi còn nhỏ, đồng thời có đồ thuốc, hiển nhiên cố che giấu chân tướng, quyết nhiên không phải là nhân vật nổi tiếng từ mấy chục năm nay tên gọi là Tái Bắc Minh Đà Mộc Cao Phong. Lâm Bình Chi chưa từng nghe đến tên tuổi Tái Bắc Minh Đà, song chàng là người linh mẫn, nghe giọng nói Lưu Chính Phong tỏ ra cực kỳ cung kính đối với người họ Mộc kia, đồng thời chàng thấy Dư Thương Hải đứng bên ngó mình ra chiều bất thiện, nếu chàng để lộ hình tích một chút thì e rằng mất mạng ngay lập tức dưới bàn tay lão. Chàng liếc tìm lời nói cho xuôi để lấp liếm, đáp:

– Tái Bắc Minh Đà Mộc đại hiệp ư? Hà hà… đó là… một bậc trưởng bối của tại hạ.

Dư Thương Hải thấy trong nhà đại sảnh đường ngoài chàng ra không còn có người nào khác có vẻ dị dạng thì cho ngay là hai tên đệ tử Thân Nhân Tuấn và Cát Nhân Thông của lão bị chàng hạ thủ. Nếu Tái Bắc Minh Đà Mộc Cao Phong thân hành đến đây thì dĩ nhiên lão rất e dè úy kỵ, nhưng đây chỉ là con em Mộc Cao Phong thì lão chẳng sợ hãi gì. Lão nghĩ thầm:

– Thằng cha này dám đến đây sinh sự với phái Thanh Thành. Dư Thương Hải này binh sinh chẳng chịu cúi đầu trước một người nào thì có lý đâu lại chịu nuốt mối căm hờn này?

Lão nghĩ vậy lạnh lùng hỏi:

– Giữa phái Thanh Thành và Tái Bắc Mộc tiên sinh vốn không có liên quan gì với nhau, tại hạ không hiểu đã có chỗ nào đắc tội với các hạ?

Lâm Bình Chi cùng lão đạo nhân thấp lùn bé nhỏ này đứng đối diện. Chàng nghĩ tới mấy bữa xảy vụ nhà tan, người mất, song thân bị bắt đến nay chưa biết sống chết thế nào hoàn toàn do lão đạo nhân này gây ra. Tuy chàng biết võ công lão cao thâm hơn mình gấp trăm lần nhưng bầu nhiệt huyết cũng sôi lên sùng sục. Chàng không nhịn được, toan rút binh khí ra đâm lão, nhưng mấy bữa nay chàng đã trải qua nhiều lo lắng ưu phiền nên không hăng như gà chọi nữa, chàng ráng nén lửa giận, nói:

– Phái Thanh Thành đã làm nhiều việc tốt quá! Mộc đại hiệp giữa đường thấy chuyện bất bình, tự nhiên ra tay dẹp bọn cường hung, giúp người yếu đuối, chẳng kể gì đắc tội hay không đắc tội.

Bọn Lưu Chính Phong nghe chàng nói vậy trong lòng không khỏi cười thầm. Ta nên biết Tái Bắc Minh Đà Mộc Cao Phong tuy bản lãnh cao cường song nhân phẩm lại rất hèn hạ. Ðừng nói ba chữ “Mộc đại hiệp” y không thể nào với tới được, mà ngay một chữ “hiệp” cũng không xứng đáng. Nguyên Mộc Cao Phong là hạng người xu phụ quyền thế, thuận gió theo chiều, chẳng kể gì đến tín nghĩa. Vì hắn võ công cao cường, lại là người linh mẫn, nếu gây oán thù với hắn thì không biết đâu mà đề phòng cho xiết, nên mọi người đối với hắn đều muốn lánh xa. Nhân sĩ võ lâm úy kỵ hắn thì có nhưng tôn kính thì nhất định là không. Lưu Chính Phong nghe Lâm Bình Chi nói vậy thì tin ngay chàng là con em Mộc Cao Phong. Lão sợ Dư Thương Hải động thủ hại chàng. Mộc Cao Phong không phải là người biết phục thiện, không nên dính líu mà gây ra mối oán thù. Lão nghĩ vậy liền nói:

– Dư quán chủ! Mộc huynh! Hai vị đã đến chơi tệ xá thì đều là quý khách của tại hạ, vậy tại hạ xin hai vị nghĩ tới chút thể diện của Lưu mỗ, cùng nhau uống mấy chung rượu vui vẻ. Người nhà đâu, lấy rượu đem ra đây mau!

Gia đinh dạ ran, chạy vào rót rượu.

Dư Thương Hải đối với chàng thiếu niên lưng gù trước mắt tuy chẳng sợ hãi gì nhưng nghĩ tới tiếng đồn trên chốn giang hồ về Tái Bắc Minh Đà Mộc Cao Phong, một tay tàn độc vô lại cũng không dám mạo muội trở mặt. Lão thấy gia đinh trong Lưu phủ rót rượu đưa nhưng không đón lấy, để xem đối phương hành động thế nào. Lâm Bình Chi trong lòng vừa tức giận, vừa sợ hãi, nhưng mối phẫn khích này trong chàng chiếm được thượng phong. Chàng nghĩ thầm:

– Không chừng bây giờ gia má mình đã bị thằng cha này hạ độc thủ rồi. Chẳng thà mình bị lão phóng chưởng đánh chết taji đương trường, chứ mình không thể đồng ẩm với hắn được.

Chàng trợn mắt ngó Dư Thương Hải, mục quang chứa đầy lửa hận, chàng cũng không đưa tay ra đón lấy chung rượu. Chàng muốn nhục mạ Dư Thương Hải mấy câu nhưng sợ uy thế lão nên không dám lên tiếng thóa mạ. Dư Thương Hải thấy Lâm Bình Chi ra vẻ cừu địch với mình thì cũng lửa giận bốc lên ngùn ngụt. Lão liền thi triển Cầm nã thủ pháp, nắm lấy cổ tay chàng, nói:

– Hay lắm, hay lắm! Lưu tam gia nói phải lắm, trước mặt Lưu tam gia không ai được vô lễ. Mộc huynh đệ, chúng ta thân cận nhau đi!

Lâm Bình Chi lúc đầu còn cựa quậy được, đến lúc lão dứt lời thì chàng thấy cổ tay đau nhói, xương kêu răng rắc cơ hồ gãy. Nhưng Dư Thương Hải ngừng lại. Lão muốn bức bách Lâm Bình Chi cất tiếng van xin, ngờ đâu Lâm Bình Chi nghĩ tới mối thâm cừu đại hận, cổ tay chàng tuy đau thấu xương mà chàng vẫn không rên la một tiếng nào. Lưu Chính Phong đứng bên thấy mồ hôi trán chàng nhỏ giọt lớn bằng hạt đậu mà thần sắc vẫn như thường, tựa hồ chẳng có chuyện gì, đối với chàng thanh niên cang cường này lão không khỏi đem lòng kính phục, liền nói:

– Dư quán chủ…

Lão toan tìm lời nói giải hòa hai bên, bỗng nghe có tiếng người thét lên:

– Dư quán chủ, sao Dư quán chủ lại hứng chí mà đem lòng khinh mạn con cháu Mộc Cao Phong này?

Mọi người quay đầu nhìn lại thì thấy đó là một lão già thấp lùn, béo chùn chụt mà lưng còng thành tròn ủng. Người này mặt đầy lang ben trắng bệch, lác đác có những miếng chàm xanh mọc lông đen, thật là một bộ mặt cực kỳ xấu xa, cổ quái. Người lão phù thủng mà lại lùn tịt, với cái lưng còng cao gồ lên coi chẳng khác gì một trái cầu bằng thịt. Mọi người trong nhà sảnh đường chưa ai được nhìn chân tướng Mộc Cao Phong, bây giờ thấy lão tự xưng danh, lại thấy tướng mạo quái dị, bất giác đều biến sắc. Người này mập thù lù như người ốm mà hành động mau lẹ phi thường. Không ai nhìn rõ lão di chuyễn thân hình thế nào, chỉ hoa mắt lên một cái là trái cầu thịt đã lăn đến bên mình Lâm Bình Chi. Lão nói:

– Hảo tôn tử, ngươi tâng bốc gia gia, nói những gì hành hiệp trượng nghĩa, dẹp bọn cường hung, giúp người yếu hèn khiến cho gia gia nghe lọt tai lắm.

Lão nói xong lại vỗ vai chàng một cái. Cái vỗ vai này làm Lâm Bình Chi cảm thấy toàn thân chấn động, còn Dư Thương Hải cũng cảm thấy cánh tay nóng lên suýt nữa phải buông ra. Nhưng lão lập tức vận công, giữ chặt lại. Mộc Cao Phong thấy vỗ một cái không hất được năm ngón tay Dư Thương Hải ra thì không khỏi giật mình kinh hãi, nói:

– Không ngờ tiểu đạo sĩ phái Thanh Thành cũng đáo để.

Lão vừa nói vừa ngấm ngầm vận nội lực vỗ vào vai chàng lần thứ hai với mười thành công lực. Lâm Bình Chi thấy mắt tối sầm lại, rồi lợm giọng, máu tươi trào lên miệng, nhưng chàng cố nhịn rồi nuốt ực vào bụng. Dư Thương Hải bị toạc hổ khẩu, không nắm được nữa, phải buông tay ra. Lão lùi lại một bước bụng bảo dạ:

– Thằng gù này thủ đoạn ghê gớm, quả nhiên danh bất hư truyền. Hắn đã hất được tay mình ra nhưng cháu hắn cũng bị nội thương rồi.

Lâm Bình Chi cười ha hả nhìn Dư Thương Hải nói:

– Dư quán chủ! Võ công phái Thanh Thành của lão hãy còn tầm thường lắm, so với Tái Bắc Minh Đà Mộc đại hiệp đây còn kém xa lắm. Tại hạ tưởng quán chủ nên quy đầu làm môn hạ đại hiệp xin lão gia dạy cho mấy chiêu thì có thể.. có thể tấn tới đó.

Lâm Bình Chi đã bị trọng thương, chàng nói một hồi như vậy khi tâm tình xúc động, nhưng sau đó cảm thấy ruột gan nhộn nhạo hết cả lên. Chàng ráng chống chọi để nói cho hết lời, rồi người chàng lảo đảo muốn té. Dư Thương Hải nói:

– Hay lắm, ngươi bảo ta quy đầu làm môn hạ Mộc tiên sinh để học thêm chút bản lãnh, đó là điều mà Dư Thương Hải này rất mong muốn. Ngươi đã là môn hạ Mộc tiên sinh thì nhất định bản lãnh phải cao thâm khôn lường, ta hãy lĩnh giáo ngươi mấy chiêu trước.

Hắn nói mấy câu này rất khôn ngoan để tỏ rõ muốn khiêu chiến với Lâm Bình Chi và yêu cầu Mộc Cao Phong đứng ngoài tự thủ bàng quan không tham dự vào. Mộc Cao Phong lùi lại hai bước, cười nói:

– Tiểu tôn tử, ta e rằng bản lãnh ngươi còn nông cạn, không phải là đối thủ với chưởng môn phái Thanh Thành. Ngươi mà tỷ đấu với y tất bị uổng mạng. Gia gia không dễ dàng mà có được đứa cháu lưng gù mà tuấn tú, dĩ nhiên chẳng nỡ bỏ mặc ngươi để cho người ta sát hại, vậy ngươi quỳ xuống rập đầu lạy gia gia, gia gia sẽ thay ngươi động thủ.

Lâm Bình Chi đưa mắt nhìn Dư Thương Hải, bụng bảo dạ:

– Mình mà mạo muội tiến ra động thủ với lão họ Dư này đang lúc hắn nóng giận thì e rằng chỉ một chiêu là mình toi mạng. Người đã chẳng còn thì nói chi đến chuyện báo thù cho song thân? Nhưng Lâm Bình Chi này tấm thân nam tử đường đường, có lý đâu lại tự nhiên vô cớ đi lạy lão lưng gù kia làm gia gia? Mình bị hổ nhục chẳng kể làm chi, nhưng để liên lụy đến danh tiếng ông cha thì ngày sau không còn đất đứng trên giang hồ. Vả lại mình đã quỳ lạy lão tức là phải nương tựa vào dưới mái nhà Tái Bắc Minh Ðà, không thể tự lập được nữa.

Lâm Bình Chi tâm thần bất định, người chàng run lẩy bẩy, chàng phải đưa tay trái ra vịn vào bàn. Dư Thương Hải liền nói:

– Ta coi ngươi chẳng ra trò gì, vậy ngươi có rập đầu lạy người ta mấy cái tưởng cũng chẳng lấy chi làm nhục nhã.

Lão ngấm ngầm phát giác ra mối quan hệ giữa Lâm Bình Chi và Mộc Cao Phong có điều đặc biệt. Hiển nhiên Mộc Cao Phong không phải là gia gia chàng, nếu phải thì khi nào chàng chỉ kêu lão bằng tiền bối mà thủy chung không gọi một tiếng “gia gia”? Lão cố ý nói khích để Lâm Bình Chi không nhịn được tự chàng ra động thủ.

Lâm Bình Chi xoay chuyển ý nghĩ rất mau. Chàng nhớ lại mấy bữa nay Phước Oai tiêu cục bị phái Thanh Thành lấn át đủ điều, phải chịu bao phen sỉ nhục, liền bụng bảo dạ:

– Ngày trước Hàn Tín phải chịu cái nhục luồn khố mà sau được đăng đàn bái tướng, dựng nên cơ nghiệp lớn lao hơn đời. Bậc đại trượng phu không biết nhịn nhục những điều nhỏ mọn thì hỏng việc lớn, mình chỉ cốt sau dương danh thiên hạ thì bây giờ có phải khuất tất cũng chẳng hề chi.

Nghĩ vậy chàng quay lại quỳ xuống trước mặt Mộc Cao Phong vừa rập đầu vừa nói:

– Gia gia, lão Dư Thương Hải đây tàn sát người vô tội, cướp đoạt tài vật đã nhiều, trong võ lâm ai cũng có quyền giết hắn, gia gia nên cầm cân công lý để trừ mối hại lớn này trên chốn giang hồ.

Hành động của Lâm Bình Chi khiến cho Mộc Cao Phong và Dư Thương Hải đều ngạc nhiên. Chẳng ai ngờ chàng lưng gù tuổi trẻ máu nóng lại chịu đi lạy người và thốt ra những lời năn nỉ kêu van. Ta nên biết rằng mọi người trong võ lâm ai cũng tranh danh, hiếu thắng, chẳng thà chịu chết dưới muôn ngàn lưỡi đao chứ không chịu cúi đầu. Ở đây quần hào đều tưởng chàng gù trẻ tuổi là cháu Mộc Cao Phong, nếu không phải cháu ruột thì cũng là đồ tôn, điệt tôn gì đây, chỉ có mình Mộc Cao Phong biết chàng chẳng có dây dưa gì đến mình. Còn Dư Thương Hải tuy đã khám phá ra phần lớn nhưng cũng không đoán ra được mối quan hệ chân chính giữa hai người. Lão nghe Lâm Bình Chi kêu “gia gia” rất là miễn cưỡng thì cho là vì chàng tham sống, sợ chết mà thốt ra.

Mộc Cao Phong cười ha hả nói:

– Tôn nhi hay lắm! Ngoan lắm! Sao? Chúng ta thử chơi một cuộc chăng?

Miệng lão khen ngợi Lâm Bình Chi mà mặt lão lại đối diện Dư Thương Hải. Câu lão khen cháu giỏi, cháu ngoan tựa hồ để nói với người trước mặt. Dư Thương Hải tức giận vô cùng. Nhưng hắn biết cuộc chiến đấu bữa nay chẳng những quan hệ cho sự sinh tử tồn vong của riêng mình hắn mà còn liên quan đến hưng suy, vinh nhục của cả phái Thanh Thành. Lão liền một mặt ngưng thần phòng bị, một mặt cười lạt nói:

– Mộc tiên sinh đã cố phô trương thần kỹ tuyệt diệu trước mặt các vị bằng hữu để chúng ta mở rộng tầm mắt, vậy bần đạo đành liều mạng để bồi tiếp người quân tử.

Vừa rồi Mộc Cao Phong đã vung tay vỗ vai Lâm Bình Chi, Dư Thương Hải biết nội lực lão cực kỳ thâm hậu, còn cao xa hơn hắn nhiều, bây giờ đối diện chiến đấu, tất nhiên thế mạnh bằng sấm sét ra oai, nghiêng non dốc biển. Hắn quyết định chủ ý là trong trăm chiêu đầu chỉ thủ chứ không công, đặng giữ cho khỏi thất bại, rồi sau sẽ chờ đợi cơ hội thủ thắng. Võ công phái Thanh Thành nguyên chỉ là một chi thuộc Huyền Môn chính tông, chuyên dùng nhu để khắc cương. Dư Thương Hải ngưng tụ chân khí vào huyệt Đan Điền, bụng bảo dạ:

– Bữa nay ta chỉ cầu sao giữ được thế quân bình, cùng lão gù này tỷ đấu không phân thắng bại thì phái Thanh Thành cũng đủ nở mày nở mặt với anh hùng thiên hạ. Ta lại nghe lão gù có tính cực kỳ tự phụ, trong nhất thời lão không thắng nổi ta, tất đi đến chỗ tâm thần phù động, chân khí táo bạo để tấn công, trong vòng trăm chiêu ta sẽ thừa cơ chỗ sơ hở của lão cũng chưa biết chừng.

Mộc Cao Phong thấy lão đạo nhân thấp lùn này thân hình chỉ bằng một đứa nhỏ, xách nặng không tới 80 cân, thế mà lão đứng coi thân pháp vững vàng, lại có khí độ một bậc đại tôn sư phái lớn, tất nhiên nội công hắn rất thâm hậu, liền bụng bảo dạ:

– Lão tiểu đạo sĩ này quả nhiên là tay đáo để. Phái Thanh Thành đời đời sản xuất nhiều tay danh thủ, thằng cha mũi trâu này làm chưởng môn quyết chẳng phải hạng tầm thường. Bữa nay Mộc mỗ bị lật thuyền trong ngòi lạch thì thanh danh một đời trôi theo dòng nước.

Mộc Cao Phong cũng là người rất cẩn thận, lão không dám mạo muội phát chiêu ngay.

Quần hào thấy hai lão thấp lùn đứng ngưng thần nhìn nhau chằm chặp và nét mặt đều nghiêm nghị thôi không cười nữa thì biết ngay một cuộc đại chiến sắp diễn ra trong khoảnh khắc. Bọn Thiên Môn đạo nhân, Ðịnh Dật sư thái vốn chẳng có hảo ý gì với Dư Thương Hải vì phái Thanh Thành không nằm trong Ngũ Nhạc kiếm phái và chẳng có một sự liên minh nào. Ngày thường bọn đệ tử phái Thanh Thành hoặc vô tình, hoặc hữu ý vẫn ra chiều khinh thị Ngũ Nhạc kiếm phái. Tuy họ không dám gièm pha hoặc chê bai trước mặt, nhưng họ chưa từng thốt ra nửa câu trọng vọng hay ca tụng bao giờ. Còn Mộc Cao Phong thì nổi tiếng hèn hạ trong võ lâm, nhưng lão cũng không làm điều gì càn rỡ hoặc gây thù oán với Ngũ Nhạc kiếm phái. Có điều những tay cao thủ hạng nhất trong phái này đều cho Mộc Cao Phong là con người ty bỉ nên không kết đảng với lão. Vì những lẽ trên, bất luận ai thắng ai bại thì bọn Thiên Môn cũng chẳng quan tâm. Chỉ có Lưu Chính Phong giữ địa vị chủ nhân là hết sức khuyên can hai bên. Nhưng Mộc, Dư hai người đều là những tay cao thủ nổi tiếng, ai thoái nhượng trước dĩ nhiên người ấy tỏ ra kém cỏi. Thực tình trong thâm tâm hai người đều không muốn có cuộc tỷ võ này, nhưng đã vào thế muốn lui cũng không được.

Giữa lúc ấy Dư Thương Hải và Mộc Cao Phong đang thủ thế chờ cơ hội phát chiêu thì đột nhiên một tiếng hô vang, hai người từ phía sau vọt ra. Huỵch một tiếng, hai người cùng ngã úp mặt xuống đất, nằm thẳng cẳng không nhúc nhích. Hai người này mình mặc áo bào xanh, mông đít hãy còn vết chân đá. Bỗng nghe thanh âm trong trẻo của một thiếu nữ vang lên:

– Ðây là bản lãnh giữ nhà của phái Thanh Thành, kêu bằng “Thí Cổ Hướng Hậu, Bình Sa Lạc Nhạn” thức.

Dư Thương Hải cả giận. Hắn xoay người lại, chưa nhìn rõ ai nói câu này đã nhảy vọt về phía phát ra thanh âm. Hắn thấy một nữ đồng mình mặc áo màu lục đứng bên chiếu liền vươn tay ra chụp lấy cánh tay cô. Nữ lớn tiếng la:

– Má má!

Rồi khóc òa lên. Dư Thương Hải giật mình kinh hãi. Nguyên hắn tưởng cô đã mở miệng buông lời vũ nhục thì cho ngay là vụ hai tên đệ tử phái Thanh Thành kia bị đá nhất định có liên quan tới cô. Hắn bóp chặt quá, khi nghe cô khóc rống lên mới biết cô chỉ là một đức con gái nhỏ tuổi. Hắn đối với cô nặng tay trước mặt anh hùng thiên hạ là quá phũ phàng, mất thể diện một vị chưởng môn phái Thanh Thành. Hắn hốt hoảng buông tay ra, ngờ đâu nữ đồng càng khóc lớn hơn. Cô vừa khóc vừa la:

– Mi bóp gãy xương ta! Má má ơi! Con bị gãy tay rồi. Ðau quá! Ðau quá!

Chưởng môn phái Thanh Thành đánh quen trăm trận, từng trải qua bao cơn sóng to gió cả mà bây giờ phải một phen thẹn thùng không bút nào tả xiết. Hắn thấy trăm ngàn con mắt đều nhìn mình và mục quang lộ vẻ trách móc, khinh bỉ, bất giác mặt hắn đỏ lên, chân tay luống cuống, khẽ cất tiếng dỗ cô bé:

– Ðừng khóc nữa, đừng khóc nữa! Không gãy tay đâu! Không gãy tay đâu!

Nữ đồng vừa khóc vừa nói:

– Gãy rồi còn gì? Ngươi bắt nạt ta. Người lớn đánh con nít, đẹp mặt chưa? Trời ơi đau quá! Híc híc híc…

Mọi người thấy cô bé này mới chừng 12, 13 tuổi, mình mặc áo màu lục, da trắng nõn nà, khuôn mặt trái xoan, vẻ người rất thanh tú, khả ái nên ai cũng có ý thương cô. Mấy người thô lỗ đã quát tháo:

– Trói lão mũi trâu lại!

– Ðánh chết lão đạo sĩ lùn đó đi!

Dư Thương Hải cuống quít cả lên. Hắn tự biết mình đã làm cho mọi người nổi giận nên không dám phản đối, chỉ thủ thỉ bảo cô bé:

– Ðể ta coi lại tay xem có bị thương không?

Hắn nói xong muốn vén áo cô bé lên. Cô không chịu la lớn:

– Không! Không! Ðừng đụng vào ta nữa. Má má ơi, lão đạo sĩ thấp lùn này đánh gãy cánh tay hài nhi rồi!

Dư Thương Hải không biết làm thế nào. Bỗng một hán tử mặc áo bào xanh từ trong đám đông chạy ra. Gã chính là Phương Nhân Trí, một tên đệ tử rất khôn ngoan phái Thanh Thành. Gã nhìn nữ đồng nói:

– Tiểu cô nương thật khéo giả vờ. Sư phụ ta chưa động đến tay áo cô thì sao lại đánh gãy tay cô được?

Nữ đồng lại hét lên:

– Má má ơi, lại có người nữa đến đánh hài nhi!

Ðịnh Dật sư thái đứng bên thấy thế cả giận bước lại vung tay lên tát vào mặt Phương Nhân Trí, vừa quát:

– Người lớn mà đi ăn hiếp trẻ nít, sao không biết nhục?

Phương Nhân Trí đưa tay lên gạt, ngờ đâu Ðịnh Dật sư thái chỉ nhử cho y vươn tay ra. Mụ vung tay phải nắm lấy tay gã, rồi tay trái mụ bẻ quặt cổ tay vào cánh tay. Nếu chiêu này mà bẻ mạnh thì khớp xương ở khuỷu tay gã lập tức gãy rời. Dư Thương Hải thấy thế vội xoay ngón tay lại điểm vào sau lưng Ðịnh Dật. Ðịnh Dật đang nắm giữ cổ tay Phương Nhân Trí, bỗng thấy Dư Thương Hải phóng chỉ điểm tới đành phải buông Phương Nhân Trí ra, xoay tay lại phóng chưởng đánh liền. Dư Thương Hải không tỷ đấu với mụ, vội nói:

– Xin lỗi sư thái!

Rồi nhảy lùi ra hai bước. Ðịnh Dật sư thái bình sinh rất thích nữ đồng xinh đẹp, mụ liền nắm lấy tay cô bé, cất giọng ôn hòa hỏi:

– Hảo hài tử! Ngươi đau ở chỗ nào? Ðể ta coi rồi ta trị thương cho!

Mụ sờ cánh tay cô, thấy chưa bị gãy mới yên lòng. Mụ vén cổ tay cô bé lên thấy cổ tay trắng nõn còn lưu lại bốn vết ngón tay xanh lè. Mụ cả giận quát mắng Phương Nhân Trí:

– Thằng giặc non kia nói láo kia, mi bảo sư phụ mi chưa đụng vào y, thế thì bốn vết ngón tay này ở đâu ra?

Nữ đồng đáp:

– Ðó là giống rùa ty tiện đã bóp tiểu nữ.

Cô vừa nói vừa trỏ vào sau lưng Dư Thương Hải. Mọi người đều bật cười. Có người đến phun cả nước trà ra, có người ôm bụng mà cười, trong nhà đại sảnh chỗ nào cũng có tiếng cười rộ. Dư Thương Hải không biết bọn họ cười gì, hắn nghĩ bụng:

– Con nhỏ kia kêu mình là giống rùa ty tiện, nhưng nó là đứa nhỏ bị oan ức mở miệng mắng càn, có chi là đáng cười?

Hắn thấy người nào cũng nhìn mình mà cười thì không khỏi ngượng ngùng bẽn lẽn. Phương Nhân Trí lún thấp người xuống, nhảy vọt lại sau lưng Dư Thương Hải, giật từ áo hắn ra một mảnh giấy, đưa cho hắn. Dư Thương Hải đón lấy, mở ra coi thì thấy trên mảnh giấy này vẽ một con rùa đen to tướng. Ðó là cô bé nhân lúc hắn không biết cài mảnh giấy này vào sau lưng hắn. Dư Thương Hải vừa bẽn lẽn, vừa tức giận, bụng bảo dạ:

– Con rùa này đã vẽ từ trước rồi, người ngoài quyết không thể viết vào sau lưng mình được. Nhất định con nhỏ kia vừa rồi lúc khóc nhân lúc tâm thần mình rối loạn đem cài vào. Vụ này tất có người lớn trong bóng tối chỉ điểm cho nó.

Hắn đưa mắt nhìn Lưu Chính Phong, miệng lẩm bẩm:

– Con nhỏ này có lẽ là người trong Lưu gia. Té ra Lưu Chính Phong đã ngấm ngầm chơi khăm mình vố này.

Lưu Chính Phong thấy Dư Thương Hải đưa mắt nhìn mình thì hiểu ngay. Lão tiến lại một bước nhìn nữ đồng hỏi:

– Tiểu muội muội! Tiểu muội muội là con cái nhà ai? Gia gia, má má tiểu muội đâu?

Câu này của lão một là để trả lời Dư Thương Hải cô bé này không phải người nhà mình, hai là lão trong lòng cũng sinh mối hoài nghi, muốn biết cô bé được ai đưa tới. Nữ đồng đáp:

– Gia gia cùng má má tiểu nữ có việc bỏ đi rồi. Các người dặn tiểu nữ ngồi đây cho ngoan ngoãn đừng có chạy nhăng. Người còn bảo lúc nữa sẽ có diễn kịch, rằng hai người biết bay nằm thẳng cẳng không nhúc nhích là bản lãnh giữ nhà của phái Thanh Thành, kêu bằng thí cổ hướng hậu, bình sa lạc nhạn thức gì gì đó, quả nhiên coi hay thật.

Cô nói xong vỗ tay. Mấy giọt lệ trên mặt vẫn còn nguyên, cô chưa lau đi, lúc này cô cười rả rích. Mọi người đều tỏ vẻ vui mừng. Họ biết vụ này có người lớn dạy cô đến quấy phá phái Thanh Thành, ai trông thấy hai tên đệ tử phái Thanh Thành nằm yên không nhúc nhích cũng cho là cái nhục lớn cho phái này. Dư Thương Hải đưa tay vỗ vào người một tên đệ tử hai cái, hắn cảm thấy tay sờ vào lạnh ngắt thì không khỏi giật mình kinh hãi. Trong nhà hoa sảnh hai tên đệ tử bị đá ngã tuy không nhúch nhích nhưng người chúng đều giá lạnh. Dư Thương Hải la thầm:

– Nguy rồi, hai tên này đã gặp phải độc thủ!

Hắn lật người hai gã đệ tử lại thì thấy mặt chúng đang mỉm cười, nhưng sờ đến mũi thì biết chúng đã chết lâu rồi. Dư Thương Hải ngó nụ cười này khác nào trông thấy ma quỷ. Tuy hắn là người trấn tĩnh phi thường mà ngón tay cũng run lên bần bật. Ta nên biết nụ cười quái dị đó rất quen thuộc với Dư Thương Hải, vì đây là tuyệt kỹ Tồi Tâm chưởng của phái Thanh Thành. Người bị giết bởi Tồi Tâm chưởng trên mặt để lại hình dạng này. Thực ra đó không phải là nụ cười mà là vì người trúng Tồi Tâm chưởng bị tan nát tim phổi đau quá, da mặt nhăn nheo thành hình nụ cười rất cổ quái. Trong võ lâm khắp thiên hạ chỉ có tuyệt kỹ Tồi Tâm chưởng là khiến cho bộ mặt người chết thành hiện trạng này, coi đó thì biết hai tên đệ tử phái Thanh Thành kia đã chết về độc thủ của bản môn. Sắc mặt Dư Thương Hải lúc xanh lè, lúc lợt lạt. Hắn nói không ra lời. Lâm Bình Chi đột nhiên la lên:

– Tồi Tâm chưởng, Tồi Tâm chưởng! Ðây chính là võ công của phái Thanh Thành.

Nguyên trong Phước Oai tiêu cục nhà chàng rất nhiều tiêu đầu cùng những tên chạy cờ đã bị chết về chưởng pháp này. Những người bị tử nạn đều để lạ trên mặt nụ cười quái dị, chàng trông thấy quen rồi và nhớ như in trong óc nên mới la lên trước tiên. Trong bọn quần hào còn nhiều người khác cũng biết hiện tượng đặc biệt về Tồi Tâm chưởng liền nói theo:

– Ðúng là Tồi Tâm chưởng!

– Té ra bọn đồng môn phái Thanh Thành tự tàn sát nhau, giết hại người nhà họ.

Dư Thương Hải ruột rối như mớ bòng bong. Hắn khẽ bảo Phương Nhân Trí

– Hãy khiêng chúng đi!

Phương Nhân Trí vẫy mấy tên đệ tử phái Thanh Thành tới khiêng thi thể hai bạn đồng môn bị nạn ra khỏi sảnh đường. Nữ đồng kia lại đột nhiên lên tiếng:

– Phái Thanh Thành nhiều người thiệt! Một tên chết có hai tên khiêng. Hai tên chết có bốn tên khiêng.

Dư Thương Hải mặt giận xám xanh, nhìn nữ đồng hỏi:

– Gia gia cô tên họ là gì? Những câu vừa rồi phải chăng là gia gia đã dạy cô?

Nên biết rằng mấy câu nói của cô bé đều xói móc, nếu không có người lớn dạy bảo thì dĩ nhiên một cô bé nhỏ tuổi không thể biết tự nghĩ ra. Nữ đồng cười nói:

– Một hai là hai, hai hai là bốn, hai ba là sáu, hai bốn là tám, hai năm là mười…

Cô đọc thuộc lòng không ngớt bản cửu chương… Dư Thương Hải nói:

– Ta hỏi cô một câu…

Thanh âm hắn cực kỳ nghiêm khắc. Nữ đồng lại ngoác miệng ra mà khóc òa lên rồi chui đầu vào lòng Ðịnh Dật sư thái. Ðịnh Dật vỗ lưng cô, tìm lời an ủi:

– Ðừng sợ, đừng sợ! Bé ngoan đừng sợ chi hết!

Mụ quay sang bảo Dư Thương Hải:

– Lão không khéo giáo huấn, để cho đệ tử mình tàn sát lẫn nhau, rồi giận cá chém thớt đi hăm dọa đứa trẻ nít là nghĩa làm sao?

Dư Thương Hải chỉ hắng giọng một tiếng chứ không trả lời. Nữ đồng đang gục đầu vào lòng Ðịnh Dật bỗng ngửng đầu lên cười nói:

– Lão sư phụ! Hai hai là bốn, hai người chết, bốn người khiêng, ba người chết phải sáu người khiêng. Hai bốn là tám…

Rồi cô ngừng lại không nói nữa, bật lên tràng cười khanh khách. Mọi người thấy cô bé động một cái là khóc, rồi lại cười ngay được, mà mỗi câu nói đều có ý châm chọc Dư Thương Hải, hiển nhiên đây không phải là câu nói ngây thơ của trẻ nít, đúng là có người lớn ở trong bóng tối mớm lời cho. Dư Thương Hải lớn tiếng:

– Bậc đại trượng phu phải có hành động quang minh lỗi lạc. Ông bạn nào có điều chi xích mích với bần đạo cứ chường mặt ra mà nói chuyện, sao lại lấp ló giấu đầu hở đuôi, dạy đứa con nít nói những lời vô vị thì đâu phải là anh hùng hảo hán?

Tuy người hắn thấp lùn mà mấy câu này phát ra từ huyệt Đan Điền, trung khí đầy rẫy, thanh âm rất là hùng tráng, lọt vào tai người vẫn còn oang oang. Quần hào nghe lão nói không khỏi đem lòng kính trọng chứ không lộ vẻ khinh khi như trước nữa. Dư Thương Hải nói câu này, trong nhà đại sảnh im phăng phắc, không có tiếng người đáp lại. Hồi lâu, đột nhiên nữ đồng lên tiếng hỏi Ðịnh Dật:

– Lão sư phụ, y hỏi anh hùng hảo hán ở môn phái nào? Phái Thanh Thành nhà y phải chăng là anh hùng hảo hán?

Ðịnh Dật là một nhân vật tiền bối phái Hằng Sơn. Tuy mụ có điều bất mãn với Thanh Thành nhưng không muốn công nhiên phỉ báng cả môn phái họ, liền hàm hồ đáp:

– Phái Thanh Thành những đời trước có rất nhiều anh hùng hảo hán.

Nữ đồng lại hỏi:

– Bây giờ thì sao? Họ có người anh hùng hảo hán nào không?

Ðịnh Dật bĩu môi nhìn Dư Thương Hải đáp:

– Ngươi hỏi ngay vị chưởng môn đạo trưởng phái Thanh Thành này sẽ biết.

Nữ đồng liền hỏi:

– Thưa chưởng môn đạo trưởng, giả tỷ một người bị trọng thương không nhúc nhích được mà có kẻ khác lại khinh khi họ thì chưởng môn tính rằng kẻ đó có phải là anh hùng hảo hán không?

Cô vừa nói câu này, chẳng những Dư Thương Hải trống ngực đập loạn lên mà hết thảy bao nhiêu người trong nhà hoa sảnh đã nghe Nghi Lâm thuật chuyện La Nhân Kiệt đâm chết Lệnh Hồ Xung đều run lên tự hỏi:

– Phải chăng cô bé này có mối liên quan với phái Hoa Sơn?

Lao Ðức Nặc bụng bảo dạ:

– Cô bé này nói vậy rõ ràng vì đại sư ca ta mà ôm mối bất bình. Không hiểu sư phụ cô là ai?

Lão sợ làm cho tiểu sư muội đau lòng, trong lúc hoang mang lão chưa kịp báo tin đại sư huynh chết cho đồng bọn hay. Trong nhà đại sảnh, người bị xúc động nhất là Nghi Lâm. Toàn thân nàng run bần bật, trong lòng cảm kích cô bé kia vô cùng. Câu này chính cô muốn đưa ra chất vấn Dư Thương Hải, nhưng vì cô bản tính hiền hòa, lại một niềm kính trọng người trên nên không tiện vặn hỏi. Bây giờ thấy cô bé hỏi thay cho mình, nàng không nhịn được, nỗi lòng chua xót, hai hàng châu lệ tuôn rơi như mưa. Dư Thương Hải hỏi lại:

– Ai đã dạy cho cô hỏi câu này?

Nữ đồng không trả lời, hỏi lại:

– Gã La Nhân Kiệt ở phái Thanh Thành có phải là đệ tử của đạo trưởng không? Gã thấy người ta bị trọng thương, đã chẳng cứu người thì chớ, lại phóng kiếm đâm chết. Như vậy đạo trưởng tính La Nhân Kiệt có phải là anh hùng hảo hán không? Ðạo trưởng đã giáo huấn gã như vậy ư?

Mấy câu này tự miệng một cô bé nhỏ tuổi nói ra, lại nói một cách lanh lợi, dồn Dư Thương Hải vào ngõ bí khiến ai nấy đều sửng sốt. Dư Thương Hải không trả lời được, lại lớn tiếng la:

– Ai xúi ngươi hỏi ta những câu này? Phụ thân ngươi phải chăng thuộc phái Hoa Sơn?

Nữ đồng quay lại nhìn Ðịnh Dật hỏi:

– Lão sư phụ, ông ta quen thói hăm người, như vậy có phải là hành vi quang minh lỗi lạc của bậc đại trượng phu không? Có xứng đáng là anh hùng hảo hán không?

Ðịnh Dật thở dài đáp:

– Cái đó ta không trả lời được.

Mọi người càng nghe càng lấy làm kỳ. Lúc trước họ còn tưởng có người lớn ở trong bóng tối ngấm ngầm mớm lời cho cô, nhưng mấy câu nói vừa rồi rõ ràng cô chụp được lời Dư Thương Hải liền bốp chát hỏi vặn ngay lại bằng những lời lẽ cực kỳ cay độc, hiển nhiên cô biết tùy cơ ứng biến, tự miệng nói ra mới thật là kỳ. Họ không hiểu tại sao cô bé nhỏ tuổi như vậy mà miệng lưỡi đã ghê gớm đến thế. Nghi Lâm đầm đìa châu lệ mờ cả hai mắt, nhưng nàng trông bóng sau lưng cô bé bỗng động tâm, tự hỏi:

– Bóng dáng em nhỏ này mình đã thấy qua mà không nhớ ở đâu.

Nàng quẹo đầu suy nghĩ, sực nhớ ra liền lẩm bẩm:

– Phải rồi! Cô này hôm qua cũng ở trong Túy Tiên lầu.

Trong đầu óc nàng hiện lên những hình ảnh đã qua một cách rất rõ rệt. Sáng sớm hôm trước, nàng bị Ðiền Bá Quang bức bách lên lầu, trong tửu lầu này bảy tám bàn đã đầy khách ngồi uống rượu. Bỗng hai người phái Thái Sơn lên khiêu chiến, Ðiền Bá Quang đánh chết một người, các tửu khách sợ quá chạy toán loạn, tửu bảo cũng không dám lên rót rượu. Tại chiếc bàn nhỏ trong góc tửu lầu trông ra ngoài đường có hai người vẫn ngồi lại. Ðến lúc Lệnh Hồ Xung bị giết, nàng ôm thi thể xuống lầu rồi, hai người kia vẫn còn ngồi đó chưa rời khỏi quán rượu. Lúc ấy nàng rất đỗi bàng hoàng, ruột bối rối thì còn lòng dạ nào để ý đến người ngồi bên chiếc bàn nhỏ kia là ai. Bây giờ nàng trông bóng sau lưng đồng nữ tương tự bóng người còn nhớ mang máng trong đầu óc, rồi dần dần nàng nhớ rõ mồn một. Trong hai người ngồi bên chiếc bàn nhỏ hôm qua thì cô bé này là một. Cô ngồi quay lưng về phía nàng nên nàng nhớ rõ bóng sau lưng. Hôm qua cô ta mặc áo vàng lợt. Giả tỷ cô không xoay người lại thì nàng chẳng thể nào nhận ra được. Nghi Lâm tự hỏi:

– Còn người nữa là ai?

Nàng chỉ nhớ người kia là đàn ông, còn già hay trẻ, ăn mặc thế nào nàng không nhớ ra được. Bao nhiêu con mắt trong nhà đại sảnh đều đổ dồn vào nhìn Dư Thương Hải, còn Nghi Lâm lại để toàn bộ tâm thần vào tình trạng hôm qua. Trước mắt nàng tựa hồ hiện ra bộ mặt tươi cười của Lệnh Hồ Xung lúc lâm tử. Nàng nhớ y đã dụ La Nhân Kiệt tiến lại rồi đâm kiếm vào bụng địch nhân. Nàng ôm thi thể Lệnh Hồ Xung quệnh quạng đi xuống lầu, trong lòng hoang mang không hiểu mình ở chỗ nào, đi bừa ra cổng thành rồi chạy loạn trên đường cái… Nghi Lâm thấy thi thể Lệnh Hồ Xung mà nàng ôm trong tay dần dần lạnh giá, nhưng nàng không cảm thấy nặng nề mà cũng không biết bi thương chi hết. Nàng đang ở trong tình trạng như người mất hồn. Không biết nàng ôm xác chết này đi bao lâu, chợt tới đầm sen bên đường. Hoa sen tại đây đua nở cực kỳ tươi đẹp. Bỗng ngực nàng tựa hồ bị đánh một chùy rất nặng, rồi không chống nổi nữa, cả nàng lẫn thi thể Lệnh Hồ Xung đều ngã xuống. Nàng ngất đi…

Lúc Nghi Lâm tỉnh lại thì thấy ánh mặt trời đã sáng tỏ. Nàng vội giơ tay ra ôm thi thể Lệnh Hồ Xung thì chẳng thấy đâu nữa. Nghi Lâm giật mình đứng phắt dậy thì chỉ thấy đầm sen vẫn còn những bông hoa tươi thắm, nàng đảo mắt nhìn quanh chẳng thấy thi thể Lệnh Hồ Xung đâu. Nàng bàng hoàng, chạy quanh đầm sen một vòng tìm kiếm, vẫn chẳng ra manh mối chi hết. Nghi Lâm quay lại nhìn mình, thấy áo quần máu me loang lổ, hiển nhiên là sự thực chứ không phải mộng ảo. Nàng bật lên hỏi:

– Thi thể Lệnh Hồ đại ca đâu?

Rồi nàng sợ hãi và cảm thấy thương tâm vô hạn, suýt ngất đi. Nghi Lâm định thần, lại tìm kiếm một lúc nữa, nhưng xác chết đã không cánh mà bay đi mất rồi. Nàng thấy đầm nước nông cạn liền lội xuống mò hồi lâu mà vẫn chẳng thấy tăm hơi chi hết. Nàng chạy về Lưu phủ tìm kiếm sư phụ, lòng tự hỏi:

– Thi thể Lệnh Hồ đại ca biến đâu mất? Có người qua đường đem đi hay bị dã thú vồ mất rồi?

Nàng nghĩ đến gã vì cứu mình phải uổng mạng, mà thi thể gã nàng không chiếu cố cho chu toàn được thì rất là đau khổ, nếu quả là bị dã thú bắt đi ăn thịt thì nàng phải đến tự tử mất. Thực ra dù thi thể Lệnh Hồ Xung có còn nguyên vẹn thì nàng cũng không muốn sống nữa. Ðột nhiên trong lòng nàng mập mờ một ý niệm mà nàng không dám nghĩ tới. Ý niệm này đã thoáng qua trong đầu óc nàng suốt một ngày mà nàng phải miễn cưỡng dẹp đi. Nàng lẩm bẩm :

– Tại sao ta lại tâm thần bất định như vậy? Sao ta lại nghĩ vớ vẩn thế này? Thật là hoang đường! Không thể thế được.

Nhưng lúc này ý niệm đó lại hiện lên rõ rệt trong đầu óc nàng. Nàng tự nhủ:

– Lúc ta ôm thi thể Lệnh Hồ đại ca chạy loạn trên đường, lòng ta rất bình thản. Bây giờ thi thể y biến mất, ta tìm kiếm để làm gì, hay lại ôm chạy lung tung trên đường như trước? Tại sao khi đến bên đầm sen ta lại ngất đi? Thật là đáng chết! Ta không nên có ý nghĩ quái gở đó. Sư phụ không ưng, bồ tát không dung tha niệm tà ma này. Ta không thể là ma quỷ được. Nhưng thi thể Lệnh Hồ đại ca đâu?

Nghi Lâm đầu óc hỗn loạn. Nàng tựa hồ thấy Lệnh Hồ Xung mỉm cười, cái mỉm cười thản nhiên như không có gì. Rồi nàng lại thấy gã lớn tiếng mắng: “Tiểu ni cô xúi quẩy này!…” với bộ mặt khó chịu của gã, trong lòng nàng đau như cắt.

Bỗng thanh âm Dư Thượng Hải lại vang lên:

– Lao Ðức Nặc, con nhỏ này là người phái Hoa Sơn ngươi phải không?

Lao Ðức Nặc đáp:

– Không phải! Bữa nay đệ tử mới thấy cô bé này lần đầu. Cô không phải là người của tệ phái.

Dư Thượng Hải nói:

– Ðược rồi! Ngươi không chịu nhận thì thôi!

Ðột nhiên hắn giơ tay lên, ánh thanh quang lấp lánh, một ngọn chùy vọt về phía Nghi Lâm. Hắn quát hỏi:

– Tiểu sư thái, cái gì đây?

Nghi Lâm còn đang ngơ ngẩn xuất thần. Nàng không ngờ Dư Thượng Hải lại phóng ám khí hại mình. Ngọn phi chùy đi rất chậm mà tiếng rít trên không lại rất gấp. Nghi Lâm chợt nảy ra một quyết định:

– Lão giết mình càng hay! Mình đã không muốn sống mà được lão kết liễu tính mạng cho thì còn gì bằng.

Nàng không có ý niệm lẩn tránh. Ngọn chùy từ từ bay tới, mấy người đồng thanh la lên cảnh báo:

-Ám khí đó! Phải để ýš!

Nhưng nàng vẫn không né tránh mà cũng không muốn giơ tay ra bắt, trái lại, nàng mừng thầm thoát khỏi cuộc đời đau khổ với cảnh thê lương, tịch mịch. Ngọn phi chùy tới kết liễu tính mạng nàng là một điều nàng mong muốn còn chưa được, khi nào còn lảng tránh nữa. Ðịnh Dật đẩy cô bé sang bên rồi vọt ra đứng chắn trước mặt Nghi Lâm. Mụ vọt người ra mau lẹ phi thường, lúc này coi mụ không phải là một bà già lụ khụ nữa. Ngọn phi chùy tuy tốc độ rất chậm nhưng nó cũng là một thứ ám khí phóng đi, thế mà Ðịnh Dật nhảy sau lại vọt người tới trước. Mụ vươn tay ra nắm lấy nó, ngờ đâu ngọn thiết chùy bay đến phía trước mụ chừng hai thước, đột nhiên rớt xuống đất đánh cạch một tiếng. Giả tỷ Ðịnh Dật sư thái vươn tay ra chút nữa thì sẽ bắt được một cách dễ dàng, nhưng mụ thấy tư thế ngọn chùy đi sắp tới nơi liền giơ tay lên trước ngực, chờ ám khí tới nơi mới xoay bàn tay nắm lấy cho ra vẻ ung dung, xứng đáng với tác phong của những tay cao thủ danh gia. Dè đâu Dư Thượng Hải ra chiêu này tuyệt kỳ bí. Hắn tính đúng ngọn chùy đến trước mặt mụ cách chừng hai thước liền cho rớt xuống, luồng lực đạo chuẩn xác phi thường mà cách dụng tâm vô cùng xảo trá. Ðịnh Dật giơ tay đón phi chùy mà để rớt mất, thế là bị thua đối phương ở trước mặt mọi người. Mặt mụ hơi ửng đỏ vì bẽ bàng. Giữa lúc ấy Dư Thượng Hải lại giơ tay lên liệng một nắm giấy vo tròn tới trước mặt nữ đồng. Cuốn giấy này tức là mảnh giấy vẽ con rùa đen của cô ta cuộn tròn lại. Ðịnh Dật động tâm nghĩ thầm:

– Thằng cha mũi trâu kia phóng ngọn chùy té ra là dụng tâm đánh lừa ta chứ không phải cố ý đả thương Nghi Tâm.

Bây giờ mụ thấy cuộn giấy nhỏ xíu liệng tới, thế đi rất gấp, so với ngọn phi chùy vừa rồi còn mau lẹ hơn nhiều. Những tay cao thủ nội gia có thể đả thương người bằng một cánh hoa hay một mảnh lá, cuộn giấy này mà liệng trúng mặt nữ đồng thì cô không khỏi bị thương. Lúc này Ðịnh Dật đứng bên Nghi Lâm, mụ thấy biến cố đột ngột không kịp cứu viện, la lớn một tiếng:

– Ngươi…

Bỗng thấy nữ đồng giơ ngón tay trỏ bên phải lên búng vào cuộn giấy. Khẽ vang lên một tiếng “cạch”, cuộn giấy rách tan thành trăm nghìn mảnh vụn, bay như bươm bướm trước mặt cô bé. Trong bọn quần hào có đến hơn 20 người không nhịn được bật tiếng reo:

– Tuyệt diệu!

Nhưng Ðịnh Dật sư thái, Dư Thượng Hải, Thiên Môn đạo nhân, Lưu Chính Phong, Văn tiên sinh, Hà Tam Thất, những tay cao thủ tuyệt đỉnh đột nhiên sắc mặt biến đổi dị thường rất khó coi. Dư Thượng Hải nói:

– Chà chà! Tiểu cô nương, chiêu Bách Điểu Triều Phụng của cô sử hay tuyệt!

Bọn Ðịnh Dật đưa mắt nhìn nữ đồng chằm chặp để xem cô đối đáp thế nào. Những tay cao thủ đều biết Bách Điểu Triều Phụng là một tuyệt kỷ của ma giáo. Nếu công phu này luyện được tới chỗ cao thâm thì một chiêu có thể đồng thời hạ sát đả thương đến mười người, thật là một chiêu số lợi hại khiến cho đối phương khó lòng tránh khỏi. Nữ đồng còn nhỏ tuổi, dĩ nhiên công phu chưa luyện được đến nơi đến chốn. Nếu cô tiếp tục rèn luyện để sử dụng cùng những loại ám khí kịch độc búng cho nó tung ra hàng trăm ngàn hạt nhỏ như cát chụp tới thì e rằng những tay cao thủ đến đâu cũng có thể mất mạng ngay tức khắc. Những người chính phái khi bàn luận đến ma giáo đều điên đầu vì môn công phu này vì không tìm ra được biện pháp nào hoàn thiện để chống đỡ, cho nên họ chán ghét vô cùng. Ngờ đâu cô bé mặt hoa da ngọc lại biết sử dụng môn võ công thâm độc ghê gớm này. Nữ đồng cười hì hì, hỏi lại:

– Ai bảo đây là công phu Bách Điểu Triều Phụng? Má má tiểu nữ kêu nó bằng “Nhất Chỉ Thiền”, có điều tiểu nữ chưa học được, còn phải luyện 20 năm nữa mới thành công. Nhưng đợi 20 năm nữa thì khi ấy tiểu nữ đã đầu bạc răng long, còn sử công phu “Nhất Chỉ Thiền” làm chi?

Thiên Môn đạo nhân cùng Ðịnh Dật sư thái đưa mắt nhìn nhau, cả hai người đều lộ vẻ kinh dị. Ðịnh Dật hỏi:

– Ngươi bảo đó là thần công “Nhất Chỉ Thiền” ư? Vậy ra mẫu thân ngươi ở trên đảo Tử Trúc ngoài Ðông Hải phải không?

Nữ đồng cười hì hì đáp:

– Phải hay không sư thái cứ việc mà đoán. Má má đã dặn tiểu nữ không được tiết lộ lai lịch với bất cứ một ai.

Bọn Thiên Môn tuy nghe tới công phu Bách Điểu Triều Phụng của ma giáo đã lâu nhưng thực ra chưa hiểu nó thế nào, mà cũng chưa trông thấy bao giờ. Huống chi công phu của nữ đồng này lại chưa luyện được đến nơi, vậy chân giả thế nào không ai phân biệt được. Còn công phu “Nhất Chỉ Thiền” là tuyệt kỹ của Kính Nguyệt thần ni, một cao nhân tuyệt thế trên đảo Tử Trúc ngoài Ðông Hải. Theo lời đồn thì thần công này không truyền cho người ngoài, vậy nữ đồng tất nhiên có mối quan hệ sâu xa với Kính Nguyệt thần ni. Tuy lời nói của nữ đồng chưa biết chân giả thế nào nhưng cũng cứ tin là thực đi, và chẳng nên khiêu khích với một vị cao nhân ngoài đời như con thần long ẩn hiện khôn lường là hơn. Bọn Thiên Môn liền đổi vẻ mặt chán ghét ra chiều kính trọng. Còn Dư Thượng Hải sắc mặt lúc trắng bệch, lúc xanh lè, âm trầm không nhất định. Ðịnh Dật sư thái thấy tiểu cô nương tướng mạo xinh đẹp đã đem lòng yêu dấu, huống chi cô lại có liên quan mật thiết với đảo Tử Trúc ngoài Ðông Hải thì cũng thuộc đệ tử nhà Phật nên mụ quyết không để cho Dư Thượng Hải khinh khi, lấn át cô. Mặt khác mụ lại nghĩ:

– Dư Thượng Hải là tôn sư một phái mà cứ rắc rối với lão cũng chẳng ích gì.

Mụ liền nhìn Nghi Lâm nói:

– Nghi Lâm, gia gia cùng má má cô bé này không hiểu đi đâu, vậy ngươi đưa cô ấy đi tìm đi, đặng có người chiếu cố, khỏi bị kẻ khác hà hiếp.

Nghi Lâm vâng lời, chạy lại dắt tay nữ đồng. Nữ đồng nhìn cô mỉm cười, cùng nhau ra khỏi nhà đại sảnh. Dư Thượng Hải biết rằng có ngăn trở cũng bằng vô dụng, hắn chỉ cười nhạt một tiếng rồi không hỏi gì tới cô bé nữa.

Nghi Lâm cùng nữ đồng ra khỏi nhà khách sảnh, nàng hỏi:

– Tiểu muội muội, quý tánh tôn danh là gì?

Nữ đồng cười hì hì, đáp:

– Tiểu muội tên gọi Lệnh Hồ Xung.

Nghi Lâm trái tim đập thình thình. Nàng sa sầm nét mặt hỏi:

– Ta lấy điều tử tế hỏi cô, sao cô lại nói giỡn với ta?

Nữ đồng vẫn cười đáp:

– Sao tỷ tỷ lại bảo tiểu muội nói giỡn? Chẳng lẽ người bạn tỷ tên gọi Lệnh Hồ Xung thì tiểu muội không được có tên đó sao?

Nghi Lâm buông tiếng thở dài. Lòng nàng se lại, không nhịn được, đành để cho hai dòng lệ trào ra, cất giọng buồn rầu:

– Lệnh Hồ đại đã ca có ơn lớn cứu mạng cho ta, rồi y lại vì ta mà uổng mạng, ta… không đáng là bạn của y.

Nàng vừa nói tới đây thì thấy hai người lưng gù một cao một thấp lật đật từ trong dãy hành lang ngoài đại sảnh đi qua, chính là Tái Bắc Minh Ðà Mộc Cao Phong và Lâm Bình Chi. Nữ đồng lại cười hì hì nói:

– Thiên hạ thật lắm chuyện kỳ! Sao lại có lão lưng gù xấu xa đến nỗi người ta nhìn thấy phải phát ớn.

Nghi Lâm nghe tiếng nữ đồng chê bai người kia thì trong lòng rất là phiền não, nàng nói:

– Tiểu muội tử, cô tự mình đi kiếm gia gia cùng má má có được không? Ta nhức đầu quá, trong mình khó chịu.

Nữ đồng cười hỏi:

– Làm gì mà nhức đầu với khó chịu? Tỷ tỷ thật khéo giả vờ. Tiểu muội biết rồi, vì tiểu muội mạo xưng là Lệnh Hồ Xung nên tỷ tỷ phiền não chứ gì? Hảo tỷ tỷ, lệnh sư bảo tỷ tỷ đi với tiểu muội, sao tỷ tỷ lại muốn đẩy tiểu muội ra không nhìn gì đến? Tiểu muội mà bị kẻ xấu khinh nhờn, tất lệnh sư sẽ quở trách tỷ tỷ đó.

Nghi Lâm nói:

– Bản lãnh tiểu muội muội hơn ta, lại thông minh hơn ta gấp bội. Cả đến Dư quán chủ, là một đại nhân vật nổi danh khắp thiên hạ cũng phải kiềng nể muội muội. Muội muội không khinh nhờn người ta thì người ta đã cảm ơn lắm rồi, còn ai dám khinh khi tiểu muội nữa?

Nữ đồng cười khanh khách, nắm chặt lấy tay Nghi Lâm, nói:

– Hảo tỷ tỷ, có phải tỷ tỷ nói móc tiểu muội không? Vừa rồi nếu không được lệnh sư bảo vệ cho thì tiểu muội đã bị lão mũi trâu đánh cho một trận rồi. Hảo tỷ tỷ, tiểu muội họ Khúc, tên gọi Phi Yến, tổ phụ cùng má má tiểu muội đều kêu tiểu muội là Phi Phi, bây giờ tỷ tỷ cứ kêu tiểu muội bằng Phi Phi là được.

Nghi Lâm nghe cô nói tên họ thực thì bao nhiêu ác cảm lúc trước đều tiêu tan hết. Có điều nàng lấy làm lạ là sao cô lại biết nàng thương nhớ Lệnh Hồ Xung mà nhận tên họ y để làm trò đùa? Nàng nghĩ thầm:

– Chắc lúc mình kể chuyện với sư phụ cùng mọi người trong hoa sảnh về những chuyện xảy ra hôm qua cô bé tinh ranh này nấp ngoài cửa sổ nghe lỏm được hết.

Nàng liền nói:

– Phi Phi, chúng ta cùng đi kiếm gia gia và má má cho muội muội. Muội tính đi về phương nào?

Khúc Phi Yến đáp:

– Tiểu muội chẳng muốn đi đến đó làm chi.

Nghi Lâm lấy làm kỳ hỏi:

– Sao muội muội lại không đi?

Khúc Phi Yến đáp:

– Tiểu muội còn nhỏ tuổi nên không muốn đi. Còn tỷ tỷ thì khác hẳn, tỷ tỷ rất đỗi thương tâm, muốn đi cho lẹ mới đúng.

Nghi Lâm trong lòng run lên hỏi:

– Gia gia và má má tiểu muội…

Khúc Phi Yến ngắt lời:

– Gia gia và má má tiểu muội tạ thế đã lâu rồi, tỷ tỷ muốn kiếm người thì phải xuống âm phủ mới thấy.

Nghi Lâm bực mình nói:

– Gia gia và má má muội muội đã tạ thế, sao còn đem chuyện này ra làm trò đùa? Chào muội muội, ta về đây.

Khúc Phi Yến vươn tay ra nắm vào huyệt mệnh môn Nghi Lâm, năn nỉ:

– Hảo tỷ tỷ! Tiểu muội là một đứa nhỏ côi cút, khổ sở, không có ai chơi với, tỷ tỷ đi với tiểu muội một lúc.

Nghi Lâm bị nữ đồng nắm giữ huyệt mệnh môn, cảm thấy nửa người tê nhức, không khỏi ngấm ngầm kinh hãi, bụng bảo dạ:

– Võ công con nhỏ này quả còn cao hơn mình, mà nghe y nói cũng đáng thương thật.

Nàng liền đáp:

– Ðược rồi, ta làm bạn với muội muội một lúc, nhưng muội muội không được nói giỡn một cách vô vị nữa.

Khúc Phi Yến cười đáp:

– Có câu chuyện tỷ tỷ cho là vô vị mà tiểu muội lại lấy làm hứng thú. Nghi Lâm tỷ tỷ, tỷ tỷ đừng làm ni cô nữa có hay hơn không?

Nghi Lâm nghe Khúc Phi Yến nói câu này thì không khỏi ngạc nhiên. Nàng lùi lại một bước. Khúc Phi Yến cười nói:

– Làm ni cô thì được lợi gì? Ðã chẳng dám ăn tôm, ăn cá, lại phải cữ cả thịt dê, thịt bò. Tỷ tỷ! Tỷ tỷ xinh đẹp như vậy mà cái đầu trọc lốc thì mất cả vẻ mỹ miều. Tỷ tỷ để mớ tóc dài bóng nuột mới đẹp mắt chứ.

Nghi Lâm nghe cô nói có vẻ ngây thơ liền bật cười, đáp:

– Ta đã gửi mình vào chốn cửa không thì đến cả bốn cõi lớn cũng là không hết, còn kể chi đến chuyện xấu đẹp bề ngoài?

Khúc Phi Yến ngoẹo đầu ngắm nghía bộ mặt Nghi Lâm. Lúc này cơn mưa đã ngớt, mây đen thưa ra, ánh trăng tỏ chiếu qua làn mây mỏng soi gương xuống mặt nàng thành một làn sáng bạc mờ mờ, càng tăng thêm vẻ kiều diễm. Cô thở dài nói:

– Chả trách người ta nhìn thấy tỷ tỷ mà phải điên đảo thần hồn.

Nghi Lâm đỏ mặt lên, hỏi:

– Phi Phi! Ngươi nói gì vậy? Ngươi còn nói giỡn hoài thì ta bỏ đi đấy.

Khúc Phi Yến cười nói:

– Thế thì thôi, tiểu muội không nói nữa. Tỷ tỷ! Tỷ tỷ cho tiểu muội một chút Thiên Hương Đoạn Tục Giao để tiểu muội đi cứu người.

Nghi Lâm lấy làm kỳ, hỏi:

– Muội muội định đi cứu ai?

Khúc Phi Yến cười đáp:

– Người này quan trọng lắm, bây giờ tiểu muội chưa nói với tỷ tỷ được.

Nghi Lâm nói:

– Muội muội muốn lấy thuốc để cứu mạng cho người, đáng lý ta phải đưa ngay, nhưng sư phụ có lời nghiêm huấn: “Thứ thuốc này rất khó chế, nếu là kẻ đốn mạt bị thương thì không nên cứu họ”, cho nên ta mới hỏi.

Khúc Phi Yến hỏi:

– Tỷ tỷ ơi, giả tỷ có người dùng lời nói khó nghe để thóa mạ lệnh sư một cách vô lý thì họ là người hay hay là người đốn mạt?

Nghi Lâm đáp:

– Kẻ nào thóa mạ sư phụ ta dĩ nhiên là hạng đốn mạt, còn hay ở chỗ nào nữa?

Khúc Phi Yến cười nói:

– Thế thì kỳ thiệt! Có người mở miệng nói: “Hễ gặp ni cô là bị xúi quẩy, đánh bạc tất thua”, y đã thóa mạ lệnh sư, lại thóa mạ cả tỷ tỷ nữa, thế mà tỷ tỷ vẫn lấy quá nửa hộp Thiên Hương Đoạn Tục Giao thoa cho y…

Nghi Lâm không chờ cô nói hết câu đã biến sắc, quay đầu bỏ đi. Khúc Phi Yến lạng mình vượt lên chắn trước mặt nàng, dang hai tay ra cười ngặt nghẽo, không cho Nghi Lâm đi. Nghi Lâm đột nhiên động tâm bụng bảo dạ:

– Phải rồi! Hôm qua ở trên lầu Túy Tiên con nhỏ này cùng một người đàn ông nữa ngồi một bàn. Ðến khi Lệnh Hồ đại ca tử nạn, mình ôm thi thể y xuống lầu, dường như cô ta hãy còn ngồi lại nên mọi việc xảy ra cô đã nhìn thấy hết chứ chẳng phải nghe lỏm câu chuyện của mình mà thôi. Chẳng hiểu cô ta có theo dõi mình không?

Nàng muốn hỏi Khúc Phi Yến một câu nhưng mặt thẹn đỏ bừng, nói không ra lời. Khúc Phi Yến hiểu ý, nói:

– Tỷ tỷ! Tiểu muội biết rằng tỷ tỷ muốn hỏi thi thể Lệnh Hồ đại ca biến đi đâu mất, có đúng thế không?

Nghi Lâm đáp:

– Ðúng thế! Nếu muội muội cho ta hay được thì ta… cảm kích vô cùng.

Khúc Phi Yến đáp:

– Tiểu muội không hay, nhưng có một người biết, mà người đó đang bị trọng thương, tính mạng lâm nguy trong khoảnh khắc. Nếu tỷ tỷ có thể dùng Thiên Hương Đoạn Tục Giao cứu sống y thì y sẽ cho tỷ tỷ biết thi thể Lệnh Hồ đại ca hiện ở đâu.

Nghi Lâm hỏi lại:

– Muội muội không biết thật chứ?

Khúc Phi Yến đáp:

– Khúc Phi Yến này mà biết thi thể Lệnh Hồ đại ca ở đâu thì e rằng sáng mai sẽ bị chết về tay Dư Thương Hải và bị hắn đâm 17, 18 nhát kiếm vào thân thể…

Nghi Lâm bịt miệng cô lại nói:

– Ta tin muội muội rồi, đừng thề thốt nữa. Người ấy là ai?

Khúc Phi Yến đáp:

– Y là người tốt, cứu hay không cứu là tùy ở nơi tỷ tỷ. Chỗ mà chúng ta tìm đến lại chẳng phải nơi tử tế gì.

Nghi Lâm đã nhất tâm muốn kiếm thi thể Lệnh Hồ Xung thì dù có phải dấn thân vào chốn núi đao, rừng kiếm nàng cũng không từ, còn kể gì nơi tử tế hay không tử tế. Nàng liền gật đầu đáp:

– Chúng ta cứ tới đó.

Hai người ra đến cổng lớn thì trời đột nhiên đổ mưa rào. Bên cổng có chục cái dù bỏ đó, mỗi người liền cầm một cái ra khỏi cổng đi về phía Ðông Bắc.

Lúc này đêm đã khuya, trên đường ít người qua lại. Hai cô đi vào một ngõ hẻm rất sâu, hai con chó thấy người đi tới sủa ầm lên. Nghi Lâm thấy Khúc Phi Yến đi vào đường hẻm nhưng lòng chỉ nghĩ tới thi thể Lệnh Hồ Xung nên cô muốn dẫn nàng đi vào đâu nàng cũng không hỏi. Bỗng thấy Khúc Phi Yến lạng người vào một lối đi nhỏ hẹp, dẫn đến một tòa nhà. Trước cổng nhà mé tả treo một ngọn đèn lồng nhỏ. Khúc Phi Yến đi tới gõ cửa ba tiếng, một người ở trong nhà chạy ra mở cổng, ngó đầu ra ngoài. Khúc Phi Yến ghé tai vào người đó nói nhỏ mấy câu rồi nhét một vật gì vào trong tay gã. Người kia liền nói:

– Dạ dạ! Xin mời tiểu thư vào!

 Trang trước Trang sau 
avatar
  Subscribe  
Thông báo về