Hồi 6: Tẩy thủ

Nghi Lâm xuất gia từ nhỏ, hết thảy mọi việc đều do Ðịnh Dật sư thái lo liệu cho nên chẳng có chút kinh nghiệm nào về ứng biến. Lúc này nàng chỉ biết bồn chồn trong dạ mà không nghĩ ra được cách gì. Giữa lúc đang bối rối, chợt nghe có tiếng bước chân vang lên, ba, bốn người từ trong ngõ hẻm đi ra. Giữa lúc canh khuya tịch mịch, tiếng bước chân lại càng rõ rệt. Mấy người này đi tới cửa Quần Ngọc viện thì dừng bước lại, rồi có tiếng người nói:

– Hai người xuống mé Ðông, còn hai người chúng ta sục mé Tây. Nếu gặp Lệnh Hồ Xung thì bắt sống gã, gã bị thương trầm trọng, không chống cự được đâu.

Ban đầu Nghi Lâm mới nghe tiếng bước chân đã sợ hãi rụng rời, bây giờ nàng thấy họ bảo nhau đến bắt Lệnh Hồ Xung thì trong đầu óc thoáng qua một ý nghĩ:

– Dù sao ta cũng phải bảo vệ cho Lệnh Hồ đại ca được chu toàn, không thể để lọt vào tay bọn người hung dữ kia.

Quyết định chủ ý rồi, lòng khiếp sợ tiêu tan hết, lập tức tỉnh táo lại. Tiến đến bên giường, nàng lấy chiếc chăn đơn quấn người Lệnh Hồ Xung lại, ôm xốc lên rồi thổi tắt đèn đi, nhẹ nhàng đẩy cửa phòng chuồn ra ngoài. Lúc này nàng không phân biệt phương hướng gì cả, cứ cắm đầu chạy về phía ngược chiều với phía đã phát ra âm thanh. Chỉ trong khoảng khắc Nghi Lâm đã xuyên qua khu vườn rau, ra tới cổng hậu. Nàng thấy cổng chỉ khép hờ, vì bọn người ở trong Quần Ngọc viện hốt hoảng bỏ trốn đã mở cổng đi ra chưa đóng cửa lại. Nghi Lâm ôm ngang Lệnh Hồ Xung, ra khỏi cổng hậu, chạy vào trong một ngõ hẻm. Nàng chạy một lúc tới bên bức tường thành thì nghĩ thầm:

– Ta phải ra khỏi thành mới yên được, vì trong thành Hành Sơn này Lệnh Hồ đại ca có rất nhiều kẻ thù.

Nàng liền men theo bức tường thành mà chạy thật nhanh. Nàng chạy chưa được bao lâu đã thấy mười mấy người trong làng gánh rau, dưa đang đi trên con đường lát đá xanh tới nơi. Ðây là những nông dân phụ lân cận gánh hàng vào thành bán. Nghi Lâm cứ cúi đầu đi lướt qua bọn lương nông. Lúc nàng ra khỏi cửa thành thì trời chưa sáng rõ, bọn lính tráng giữ cổng thành không nhìn rõ, mắt chúng vừa hoa lên thì Nghi Lâm đã chạy xa rồi. Nghi Lâm chạy một mạch được chừng bảy, tám dặm thì vào đến khu hoang sơn, rồi sau không còn đường lối nữa. Nàng đã tới một chỗ thạch động âm u, đầy đá núi ngổn ngang. Bây giờ tâm thần mới hơi yên lại, nàng cúi đầu xuống nhìn Lệnh Hồ Xung thì gã đã tỉnh lại. Mặt gã lộ ra một nụ cười và mắt đang chăm chú nhìn nàng. Nghi Lâm thấy Lệnh Hồ Xung nhoẻn miệng cười nhìn mình thì trong lòng bối rối, người run lên, sẩy tay đánh rớt người gã xuống. Nàng la lên một tiếng:

– Chao ôi!

Rồi vội sử chiêu “Kính Phụng Tam Bảo” cúi mình xuống đỡ Lệnh Hồ Xung lên. Chiêu này nàng sử được mau lẹ, không để gã rớt xuống tới đất, nhưng hạ bàn nàng không vững, người loạng choạng, phải lướt về phía trước mấy bước mới đứng lại được. Nàng nói:

– Xin lỗi đại ca! Vết thương của đại ca có đau lắm không?

Lệnh Hồ Xung dịu dàng đáp:

– Không đau đâu, tiểu sư muội! Sư muội hãy nghỉ một lúc đã!

Vừa rồi Nghi Lâm chạy trốn bọn đệ tử phái Thanh Thành, tâm trí nàng chỉ nghĩ sao cho Lệnh Hồ Xung thoát nạn khỏi rơi vào tay đối phương, không nghĩ gì đến trong mình mỏi mệt. Bây giờ nàng định thần lại liền cảm thấy tứ chi bải hoải, thân thể rã rời. Nàng cố gắng đặt nhẹ Lệnh Hồ Xung xuống đống cỏ, rồi đứng không vững, ngồi phệt xuống mà thở hồng hộc. Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Sư muội chỉ mải lo chạy mà quên mất cả điều hòa hơi thở, đó là một điều tối kỵ… của những người học… Thế này… dễ bị thương lắm.

Nghi Lâm hai má ửng hồng, đáp:

– Ða tạ đại ca đã chỉ điểm cho. Sư phụ cũng đã dạy rồi mà trong lúc hoang mang tiểu muội quên hết.

Nàng ngừng lại một chút rồi hỏi:

– Vết thương của đại ca bây giờ thế nào?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Tiểu huynh không thấy đau đớn gì nữa, chỉ thấy hơi ngứa mà thôi.

Nghi Lâm cả mừng nói:

– Hay lắm! Hay lắm! Vết thương phát ngứa tức là sắp khỏi hẳn. Không ngờ đại ca mau lành như vậy.

Lệnh Hồ Xung thấy nàng ra chiều vui vẻ thì trong lòng cảm động. Gã cười nói:

– Ðó là công hiệu của linh dược quý phái.

Bỗng gã buông tiếng thở dài, hằn học nói:

– Có điều đáng tiếc là tiểu huynh bị trọng thương, để bọn chuột nhắt khinh nhờn. Giả tỷ vừa rồi lọt vào tay bọn tiểu tử phái Thanh Thành kia thì tiểu huynh có chết cũng không sao mà chỉ sợ bị một phen sỉ nhục.

Nghi Lâm hỏi:

– Té ra Lệnh Hồ đại ca cũng nghe thấy chúng bàn nhau ư?

Nàng nghĩ tới mình đã ôm gã chạy một lúc lâu mà không biết gã đã giương mắt lên nhìn mình từ lúc nào, bất giác mặt nàng đỏ lên như ráng chiều. Lệnh Hồ Xung không biết nàng hổ thẹn mà cho là vì nàng chạy lâu tốn nhiều hơi sức liền nói:

– Sư muội! Sư muội ngồi một lúc, dùng tâm pháp của bản môn để điều hòa nội tức cho khỏi bị nội thương.

Nghi Lâm đáp lại bằng một tiếng “dạ” rồi ngồi xếp bằng, vận dụng tâm pháp của sư môn truyền thụ cho để điều hòa nội tức. Nhưng tâm nàng nóng nảy băn khoăn, không sao yên tĩnh lại được. Một lúc nàng lại mở mắt ra nhìn Lệnh Hồ Xung để xem thương thế gã biến hóa ra sao, lúc sau nàng lại ngó xem gã có nhìn mình không. Nàng ngó đến lần thứ ba thì đúng lúc Lệnh Hồ Xung đang nhìn mình, bốn luồng mục quang vừa tiếp xúc, nàng giật nẩy mình lên, vội nhắm mắt lại. Lệnh Hồ Xung bật lên tràng cười ha hả. Nghi Lâm hai má ửng hồng, bẽn lẽn hỏi:

– Tại… sao vậy?

Lệnh Hồ Xung cười đáp:

– Sư muội còn nhỏ tuổi, công phu hàm dưỡng nông cạn, không thể trấn tĩnh ngay trong một lúc được, vậy sư muội bất tất phải miễn cưỡng. Nhất định Ðịnh Dật sư bá đã dạy qua sư muội, lúc luyện công mà tinh tiến mau lẹ quá chừng cũng là một điều đáng ngại. Việc điều hòa nội tức này phải bình tâm, tĩnh trí mới được.

Gã ngừng lại nghĩ một chút rồi nói tiếp:

– Sư muội hãy yên tâm! Tiểu huynh đã dần khôi phục nguyên khí, bọn tiểu tử phái Thanh Thành kia có đuổi tới nơi chúng ta cũng không sợ họ. Ta sẽ cho từng tên một đòn “Thí Cổ Hướng Hậu”… để chúng té nhào…

Nghi Lâm tủm tỉm cười, hỏi:

– Tức là chiêu “Bình Sa Lạc Nhạn” của phái Thanh Thành phải không?

Lệnh Hồ Xung cười đáp:

– Phải đấy! Ha ha!…

Gã nói mấy tiếng sau cùng lại nổi cơn ho tựa hồ nghẹt thở. Nghi Lâm nói:

– Lệnh Hồ đại ca đừng nói nhiều cho mệt, hãy ngủ thêm lúc nữa đi.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Tiểu huynh hận mình không dậy đi ngay được để đến nhà sư thúc coi những cuộc vui nhộn. Trời ơi! Sư phụ đã tới, tất là có chuyện trọng đại xảy ra, nếu không thì chẳng khi nào lão nhân gia chịu thân hành xuất mã.

Nghi Lâm thấy đôi môi gã phát nhiệt, cặp mắt khô queo thì biết là gã mất máu nhiều, cần uống nước lắm, nàng liền hỏi:

– Có phải đại ca khát nước lắm không? Để tiểu muội đi kiếm chút nước về cho Lệnh Hồ đại ca uống.

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Tiểu huynh thấy dưới khu ruộng về mé tả con đường lên đây có rất nhiều dưa hấu, tiểu sư muội đi hái mấy trái về đây.

Nghi Lâm đáp:

– Ðược rồi!

Nàng đứng dậy, sờ soạng bên mình thì chẳng có một đồng tiền nào, liền hỏi:

– Lệnh Hồ đại ca có giắt tiền bên mình không?

Lệnh Hồ Xung hỏi lại:

– Sư muội cần tiền để làm gì?

Nghi Lâm đáp:

– Ðể đi mua dưa.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Việc gì phải mua, cứ ra mà hái lấy! Gần đó không có nhà cửa chi hết, người trồng dưa nhất định ở xa, sư muội hỏi ai mà mua?

Nghi Lâm ngượng ngùng đáp:

– Không bảo người ta mà lấy là ăn cắp… Sư phụ đã dạy không được làm trộm cắp. Nếu mình không có tiền thì cứ hỏi họ mà xin một trái, chắc họ cũng cho.

Lệnh Hồ Xung ra chiều khó chịu nói:

– Tiểu…

Gã định mắng “Tiểu ni cô này lẩn thẩn lắm!”, nhưng gã nghĩ tới nàng vừa tận lực cứu mình nên vừa buột miệng ra một chữ “tiểu” liền dừng lại. Nghi Lâm thấy Lệnh Hồ Xung có vẻ bực mình thì biết là gã khó chịu nên không nói gì, theo lời gã đi về mé tả tìm kiếm. Nàng đi chừng hơn hai dặm, quả nhiên thấy mấy mẫu ruộng dưa. Trên ngọn cây ve sầu kêu rên rỉ, bốn bề không một bóng người, nàng tự nghĩ:

– Lệnh Hồ đại ca muốn ăn dưa hấu. Nhưng dưa này là vật có chủ, sao mình lại tự tiện lấy của người ta?

Nàng đi thêm hơn một dặm nữa, đứng trên gò cao nhìn bốn mặt vẫn không thấy ai, mà cũng chẳng có một mái nhà nào của nông dân. Nàng đành trở lại ruộng dưa, ngần ngừ một lúc, nàng đưa tay ra toan ngắt dưa rồi lại rụt về. Nàng muốn bỏ đi thì trong đầu óc lại hiện lên vẻ mặt tiêu điều, miệng đắng, môi khô của Lệnh Hồ Xung. Nàng nghiến răng, chắp hai tay lại, lầm rầm khấn khứa:

– Xin đức bồ tát chứng dám cho, đệ tử không dám có ý trộm đạo, chỉ vì Lệnh Hồ đại ca… thèm dưa…

Nhưng nàng lại nghĩ Lệnh Hồ đại ca không phải là lý do chính đáng thì trong lòng nóng nẩy, nước mắt giàn giụa. Hai tay nàng ôm một trái dưa nâng lên, cuống dưa đứt liền, nàng tự nhủ:

– Người ta cứu mạng cho mình thì mình có phải sa xuống địa ngục, vĩnh viễn chịu kiếp luân hồi cũng ráng mà chịu đựng.

Rồi nàng ôm trái dưa chạy về bên Lệnh Hồ Xung.

Lệnh Hồ Xung trước nay khác nào hạc nội mây ngàn, đối với lễ phép cùng cấm giới thế tục gã chẳng bao giờ để ý đến. Gã cho là vị tiểu ni cô này nhỏ tuổi không hiểu việc đời, có biết đâu Nghi Lâm lúc hái trái dưa này đã nổi lên những trận bão lòng. Gã thấy nàng ôm dưa về đến liền cười nói:

– Tiểu sư muội! Sư muội là một tiểu cô nương ngoan ngoãn.

Nghi Lâm nghe gã khen mình như vậy thì chấn động tâm thần, suýt nữa đánh rớt trái dưa xuống đất.

Lệnh Hồ Xung cười hỏi:

– Sao sư muội lại hoang mang như vậy? Phải chăng đi hái trộm dưa có người đuổi bắt?

Nghi Lâm lại đỏ mặt lên, đáp:

– Không! Không có ai đuổi bắt tiểu muội cả.

Nàng từ từ ngồi xuống. Lúc này bầu trời quang đãng, vầng thái dương ở phương Đông mọc lên, mà chỗ Lệnh Hồ Xung cùng Nghi Lâm ngồi lại ở phía Tây trái núi, ánh mặt trời không soi tới được. Những cây cối trong rừng sau khi trải qua một trận mưa như rửa sạch, làn không khí thanh tân quạt vào mặt. Nghi Lâm trấn tĩnh tâm thần, nàng rút thanh kiếm gãy ở sau lưng ra, nhìn thấy chỗ kiếm gãy rất bằng bặn, tựa hồ do lưỡi bảo đao chặt đi, nàng lẩm bẩm:

– Tên ác ôn Ðiền Bá Quang võ công ghê gớm như vậy, nếu hôm ấy mình không được Lệnh Hồ đại ca xả thân cứu viện thì bây giờ đâu có được ngồi yên được ở chỗ này?

Nàng lại liếc nhìn Lệnh Hồ Xung, thấy gã cặp mắt sâu hoắm, mặt không còn chút huyết sắc, liền tự nhủ:

– Vì y ta có phải phạm nhiều tội nghiệt cũng chẳng đáng hối hận, vậy ăn cắp một trái dưa hấu phỏng có chi đáng kể?

Nghĩ tới đây, bao nhiêu ý niệm phạm tội đều tiêu tan hết. Nàng lấy vạt áo lau sạch lưỡi kiếm rồi bổ dưa ra. Trái dưa hấu vừa bổ ra, một mùi thơm mang mác bốc lên. Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Trái dưa này tốt lắm! Sư muội, tiểu huynh chợt nhớ tới một câu chuyện buồn cười. Ngày tết Nguyên Tiêu năm nay, bọn sư huynh, sư muội huynh tụ hội uống rượu. Nhạc Linh San sư muội nói giỡn một câu: “Bên tả là con chó nhỏ, bên hữu là trái dưa lớn, thế là chữ gì?” Lúc đó bên tả y có lục sư đệ Lục Ðại Hữu, là gã đã trở lại kiếm tiểu huynh tối hôm qua, còn tiểu huynh ngồi bên phải y.

Nghi Lâm mỉm cười, hỏi:

– Y nói vậy là để giỡn Lệnh Hồ đại ca cùng Lục sư huynh kia chứ gì?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Ðúng thế! Chữ đó chẳng có gì khó đoán. Nó là chữ Hồ ở trong cái tên Lệnh Hồ Xung của tiểu huynh. Hay ở chỗ có Lục sư đệ ngồi ở mé tả y, mà tiểu huynh lại ở mé hữu. Hiện giờ ở đây bên tả là một con chó nhỏ và một bên hữu là một trái dưa lớn, chữ Khuyển và chữ Qua ghép cũng lại thành chữ Hồ. Gã vừa nói vừa trỏ vào trái dưa rồi lại trỏ vào Nghi Lâm.

Nghi Lâm cười nói:

– Hay quá, đại ca nói quanh co để giễu tiểu muội là con chó nhỏ.

Nàng cắt dưa ra từng thỏi, khoét hột đi rồi đưa cho Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung đón lấy dưa cắn ăn ra vẻ thơm ngon lắm, ăn vài miếng đã hết một thỏi. Nghi Lâm thấy gã ăn uống ngon lành thì lòng nàng cũng sung sướng. Nàng thấy gã nằm ngửa ăn dưa để rớt nước xuống ướt cả vạt áo đằng trước liền cắt dưa thành những miếng nhỏ đưa cho gã từng miếng một để gã đút thỏm vào mồm mà ăn, nước dưa không rớt xuống áo nữa. Nghi Lâm lại thấy mỗi lần gã đưa tay ra đón lấy miếng dưa làm đụng đến vết thương, nàng không cầm lòng được liền đút từng miếng nhỏ vào miệng gã. Lệnh Hồ Xung ăn hết nửa trái dưa mới nghĩ tới mình chỉ ăn cho khoái khẩu còn Nghi Lâm chưa được miếng nào liền giục:

– Sư muội cũng ăn đi chứ!

Nghi Lâm đáp:

– Chờ đại ca ăn đủ đã rồi sẽ đến lượt tiểu muội.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Tiểu huynh đủ rồi! Sư muội ăn đi!

Nghi Lâm cũng khát nước lắm. Nàng đút cho Lệnh Hồ Xung mấy miếng nữa rồi tự mình ăn một miếng. Nghi Lâm đưa mắt ngó Lệnh Hồ Xung thấy gã nhìn mình trừng trừng không chớp mắt thì xấu hổ quá, ngồi xoay mình lại, quay lưng vể phía Lệnh Hồ Xung. Bỗng Lệnh Hồ Xung reo lên:

– Úi chà! Đẹp quá!

Giọng nói của gã đầy vẻ tán thưởng… Nghi Lâm lại càng bẽn lẽn. Nàng muốn đứng dậy trốn đi mà không quyết định được. Nàng cảm thấy toàn thân nóng ran, mắc cỡ đến đỏ mặt mày. Lệnh Hồ Xung lại nói:

– Sư muội coi kìa, đẹp quá! Sư muội đã thấy chưa?

Nghi Lâm từ từ xoay mình lại, thấy gã trỏ tay về phía Tây. Nàng nhìn theo phía ngón tay trỏ thì thấy một cái cầu vồng ở phía xa xa từ sau chòm cây xuất hiện, bảy màu sắc cực kỳ rực rỡ, biến ảo không bút nào tả xiết. Bây giờ nàng mới biết gã khen cầu vồng đẹp mà nàng lại tưởng lầm là gã khen mình, bất giác nàng lại hổ thẹn. Có điều lần này trong cái hổ thẹn hơi lộ ra một chút thất vọng, so với cái hổ thẹn lúc trước có giấu niềm vui thành ra có chỗ bất đồng. Lệnh Hồ Xung hỏi:

– Sư muội hãy lắng nghe, có nghe thấy gì không?

Nghi Lâm lắng tai nghe thì thấy chỗ cầu vồng mọc lên văng vẳng có tiếng nước chảy, liền đáp:

– Dường như có thác nước.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Ðúng thế! Mấy bữa nay mưa liền, trong khe núi dĩ nhiên có nhiều thác nước. Chúng ta tới đó coi.

Nghi Lâm ngập ngừng:

– Lệnh Hồ đại ca!… Ðại ca hãy nằm yên tĩnh một lúc nữa đã.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Chỗ này toàn đá núi ngổn ngang, chẳng có phong cảnh gì xinh đẹp, chúng ta đi coi thác nước hay hơn.

Nghi Lâm không nỡ trái ý gã liền đứng dậy định đỡ gã. Ðột nhiên mặt nàng lại đỏ lên nghĩ thầm:

– Mình đã ôm y hai lần. Lần đầu tưởng y chết rồi, lần thứ hai ôm chạy thục mạng trong lúc nguy cấp, bây giờ tuy y bị thương nhưng thần trí y tỉnh táo rồi thì mình còn đụng vào y thế nào được? Y lại quyết chí đến bên thác nước, hay là cố ý bắt mình dìu dắt y đi?

Nghi Lâm còn đang do dự thì thấy Lệnh Hồ Xung lượm một cành cây gãy để chống xuống đất, từ từ đi về phía trước. Nàng lẩm bẩm:

– Té ra mình đã hiểu lầm y.

Rồi nàng vội đưa tay ra dìu dắt, đồng thời tự trách mình:

– Sao mình lại thế được? Lệnh Hồ đại ca dĩ nhiên là bậc chính nhân quân tử. Bữa nay không hiểu vì đâu mình có những ý nghĩ lệch lạc như vậy. Y cũng là đàn ông như Ðiền Bá Quang nhưng khác nhau một trời một vực, có lý đâu mình lại coi kiểu cá mè một lứa được?

Lệnh Hồ Xung quả là con người cứng cỏi. Gã vừa bị thương chưa được hai ngày mà đã có thể cất bước lần đi, mặc dù bước chân không vững vàng. Ði một lúc tới bên phiến đá lớn, Nghi Lâm đỡ gã ngồi xuống nghỉ một lúc rồi nói:

– Chỗ này cũng đẹp! Ðại ca nhất định phải đi coi thác nước ư?

Lệnh Hồ Xung cười đáp:

– Tiểu huynh phải cái tính ương gàn, đã nghĩ tới chuyện gì thì tất làm cho bằng được.

Nghi Lâm nói:

– Ðược rồi, đại ca tới đó coi phong cảnh đẹp, trong lòng khoan khoái thì vết thương cũng sẽ chóng lành.

Lệnh Hồ Xung tủm tỉm cười, lại cất bước đi. Hai người từ từ đi hết một khu thung lũng thì nghe có tiếng nước chảy róc rách. Ði thêm một đoạn dài nữa, tiếng nước chảy càng vang lên. Hai người xuyên qua một khu rừng tùng thì thấy làn thác nước như một con bạch long từ vách núi xông ra, Lệnh Hồ Xung hoan hỉ nói:

– Bên ngọn Ngọc Nữ ở Hoa Sơn cũng có một làn thác nước lớn hơn chỗ này và hình trạng tương tự. Linh San sư muội thường hay dẫn tiểu huynh đến bên thác nước đó luyện kiếm, có lúc y tinh nghịch nhảy cả xuống thác.

Nghi Lâm nghe Lệnh Hồ Xung đề cập đến Nhạc Linh San sư muội lần thứ hai, nàng chợt tỉnh ngộ, bụng bảo dạ:

– Ðang lúc y bị trọng thương mà nhất định đòi đến bên thác nước, chẳng biết có phải để thưởng ngoạn phong cảnh hay y đang tưởng niệm đến Nhạc Linh San sư muội?

Nghĩ tới đây nàng không hiểu tại sao trái tim se lại, tựa hồ bị đánh một đòn nặng. Lệnh Hồ Xung lại nói tiếp:

– Mấy lần y đòi ta xuống thác nước cùng luyện kiếm và bảo là sức nước khiến cho kiếm pháp có uy lực hơn. Rồi hai người đều ướt sạch. Có lần y trượt chân suýt nữa té xuống vực sâu, may mà tiểu huynh nắm kịp y lại, thật là một phen hú vía.

Nghi Lâm nói:

– Ðại ca có nhiều sư muội không?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Phái Hoa Sơn có cả thảy bảy nữ đệ tử. Nhạc Linh San sư muội là con gái sư phụ, còn sáu cô kia đều là những nữ đệ tử của sư mẫu thu nạp.

Nghi Lâm hỏi:

– Ồ, té ra y là tiểu thư của Nhạc sư bá. Y… y…. hợp với ý với đại ca lắm nhỉ?

Lệnh Hồ Xung từ từ ngồi xuống, đáp:

– Tiểu huynh là một đứa con côi cút, không cha, không mẹ. Mười ba năm trước đây nhờ ân sư thu nạp làm môn hạ, khi ấy Nhạc Linh San sư muội mới lên năm. Tiểu huynh lớn hơn y nhiều, thường thường bồng y đi hái trái cây, bắt thỏ. Tiểu huynh cùng y ở với nhau từ nhỏ đến lớn, sư phụ, sư mẫu lại không có con trai nên coi tiểu huynh như con ruột, mà Nhạc Linh San sư muội khác nào cô em gái của tiểu huynh.

Nghi Lâm nói:

– Té ra là thế!

Lát sau nàng lại nói tiếp:

– Tiểu muội cũng là một đứa con côi không cha, không mẹ, được ân sư nuôi dưỡng và xuất gia từ nhỏ.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Ðáng tiếc! Thật là đáng tiếc!

Nghi Lâm quay lại ngó gã, mắt nàng lộ vẻ hoài nghi. Lệnh Hồ Xung nói tiếp:

– Nếu sư muội không phải là môn hạ Ðịnh Dật sư bá thì tiểu huynh sẽ xin sư mẫu thu nạp sư muội làm đệ tử. Bọn sư huynh, sư tỷ, sư muội chúng ta có một số đông đến ba mươi mấy người, náo nhiệt tưng bừng lắm. Sau giờ luyện công, mọi người lại kết bọn du ngoạn, sư phụ, sư mẫu không quản cố chi hết. Sư muội mà gặp Linh San tất thích y lắm, hai người sẽ là đôi bạn tốt.

Nghi Lâm nói:

– Ðáng tiếc tiểu muội không có phước như vậy. Nhưng ở trong am Bạch Vân sư phụ cùng các vị sư tỷ đối với tiểu muội rất tử tế, tiểu muội… cũng vui vẻ lắm.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Phải rồi, tiểu huynh ăn nói lầm lỡ. Kiếm pháp của Ðịnh Dật sư bá rất thần diệu, khi sư phụ cùng sư mẫu tiểu huynh đề cập đến lão nhân gia đều tỏ ra bội phục lắm. Phái Hằng Sơn chả kém gì phái Hoa Sơn hết.

Nghi Lâm hỏi:

– Lệnh Hồ đại ca, bữa trước đại ca bảo Ðiền Bá Quang nếu đánh đứng thì gã đứng vào hàng thứ 14, Nhạc sư bá thứ 6, vậy sư phụ tiểu muội đứng vào hàng thứ mấy trong thiên hạ?

Lệnh Hồ Xung cười đáp:

– Ðó là tiểu huynh lừa gạt Ðiền Bá Quang, đâu phải chuyện thực. Võ công mạnh hay yếu thay đổi hàng ngày, có người tiến bộ, có người thoái bộ, vậy liệt ai vào hạng nào trong thiên hạ làm sao được. Tiểu huynh cố sắp Ðiền Bá Quang vào hạng khá cao chỉ là để gã hài lòng thôi!

Nghi Lâm nói:

– Té ra Lệnh Hồ đại ca đã gạt gã.

Nàng nhìn thác nước ngơ ngẩn xuất thần, hỏi tiếp:

– Lệnh Hồ đại ca, thường thường đại ca hay lừa bịp người khác ư?

Lệnh Hồ Xung cười hì hì, đáp:

– Tiểu huynh chỉ lừa gạt tùy từng người thôi. Tỷ như đối với sư phụ, sư mẫu thì bất luận việc gì, dù có phải chặt đầu cũng không dám lừa gạt.

Nghi Lâm ồ một tiếng rồi hỏi:

– Thế còn đối với các vị sư huynh, sư đệ, sư tỷ, sư muội thì sao?

Nàng muốn hỏi: “Đại ca có lừa gạt Linh San sư muội không?” nhưng không hiểu tại sao nàng không dám hỏi thẳng. Lệnh Hồ Xung đáp:

– Cái đó cũng còn tùy người, tùy việc. Bọn sư huynh, sư đệ của tiểu huynh thường giỡn cợt, không bịp nhau thì còn chi thú vị?

Nghi Lâm đành hỏi đến nơi:

– Cả đối với Linh San tỷ tỷ Lệnh Hồ đại ca cũng lừa gạt hay sao?

Lệnh Hồ Xung không ngờ nàng hỏi tới câu này. Gã chau mày ngẫm nghĩ một lúc, nhớ lại trong đời mình thì trước nay chưa có việc gì trọng đại mà gã đã lừa gạt cô ta cả. Gã liền đáp:

– Nếu là việc quan trọng dĩ nhiên tiểu huynh không thể lừa gạt y, nhưng lúc giỡn chơi, nói dối y để làm trò cười thì thế nào chả có.

Nghi Lâm ở Bạch Vân am phải tuân theo giới luật của sư phụ rất nghiêm cẩn. Các vị sư tỷ của nàng ai cũng mặt lạnh, ít lời. Tuy mọi người vẫn thương yêu đùm bọc nhau, có điều không ai nói giỡn cợt một câu nào bao giờ, cả những việc du ngoạn giải trí cũng không có. Từ lúc nàng còn nhỏ đã vào ở nơi tịch mịch, lạnh lẽo, ngoài thì giờ luyện võ là gõ mõ tụng kinh, bây giờ nghe Lệnh Hồ Xung nói đến bọn đồng môn phái Hoa Sơn nhiều trò vui nhộn, bất giác tinh thần phấn hứng, bụng bảo dạ:

– Nếu mình được theo y đến Hoa Sơn chơi một dạo há chẳng thú lắm ư?

Nhưng nàng lại nghĩ tới lần này ra khỏi am chiền liền gặp phải phong ba nguy hiểm, e rằng sau khi về am sư phụ sẽ không cho ra khỏi cửa nữa, chuyện đi chơi Hoa Sơn chỉ là một mơ tưởng hão huyền. Rồi nàng lại tự hỏi:

– Giả tỷ mình có đến Hoa Sơn thì y suốt ngày bầu bạn với Linh San sư muội, còn mình chẳng biết người nào thì còn ai chơi với mình?

Lòng nàng bỗng cảm thấy mối thê lương, vành mắt đỏ hoe cơ hồ sa lệ. Lệnh Hồ Xung không để ý đến nàng, gã nhìn thác nước, hỏi :

– Tiểu huynh và Linh San đang cùng nhau nghiên cứu một thứ kiếm pháp, mượn sức thác nước đẩy người đi để thi triển kiếm chiêu, sư muội có biết để làm gì không?

Nghi Lâm lắc đầu đáp:

– Tiểu muội không biết.

Thanh âm nàng có vẻ nghẹn ngào mà Lệnh Hồ Xung vẫn không để ý, gã liền nói:

– Kiếm pháp này chuyên để cùng người động thủ mà công lực đối phương rất thâm hậu. Về khí giới cũng như về quyền chưởng, người có nội lực lợi hại có thể hất được trường kiếm của chúng ta ra. Tiểu huynh cùng Linh San sư muội luyện kiếm trong thác nước là dùng thủy lực để xung kích nội công đối phương, chẳng những chỉ để gạt nội lực của họ mà còn dùng cách mượn sức người đánh người, tức là đưa nội lực của đối phương đánh lại họ. Kiếm pháp này đối với địch thủ tầm thường thì chẳng thấy chi mãnh liệt, nhưng khi chạm trán phải một tay nội lực uyên thâm thì nó lại có cơ hội thi triển uy lực phi thường.

Nghi Lâm thấy gã ra chiều phấn khởi, hăng say, nàng không nỡ làm cho gã phải cụt hứng liền hỏi cho có chuyện:

– Các vị đã luyện thành tựu được kiếm pháp đó chưa?

Lệnh Hồ Xung lắc đầu đáp:

– Chưa! Muốn tự sáng chế ra một kiếm pháp đâu phải chuyện dễ dàng. Nói cho đúng ra thì chúng ta có sáng lập ra kiếm pháp nào đâu, chỉ là đem kiếm pháp bản môn của sư phụ đã truyền cho xuống làn nước sửa đổi một chút để tập rượt mà thôi.

Gã ngừng lại một chút rồi từ từ đưa tay lên không vạch một cái, lộ vẻ vui mừng nói tiếp:

– Tiểu huynh lại nghĩ tới một chiêu thức, chờ khi nào thương thế lành mạnh sẽ quay về cùng Linh San sư muội thử đánh coi.

Nghi Lâm lại hỏi:

– Kiếm pháp đó kêu bằng gì?

Lệnh Hồ Xung cười đáp:

– Tiểu huynh đã bảo với Linh San sư muội không thể đặt tên cho kiếm pháp này được, nhưng y nhất định đòi đặt tên cho nó. Y bảo kêu nó là Xung Linh kiếm pháp, vì kiếm pháp này do tiểu huynh cùng y cùng chế tạo ra.

Nghi Lâm nói rất khẽ:

– Xung Linh kiếm pháp! Xung Linh kiếm pháp! Trong kiếm pháp này có cả tên đại ca lẫn tên y. Kiếm pháp này truyền lại đời sau người ta đều biết là… hai vị hiệp lực sáng chế ra.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Linh San sư muội, nói vậy để giỡn chơi chứ thực ra về bản lĩnh chúng ta làm gì đủ tư cách mà sáng chế được kiếm pháp. Sư muội chớ nói chuyện này với ai để bạn bè giang hồ nghe thấy họ không cười chúng ta đến trẹo quai hàm.

Nghi Lâm ngoan ngoãn đáp:

– Dạ, tiểu muội không nói với ai đâu!

Nàng ngừng lại một chút rồi tủm tỉm cười nói tiếp:

– Ðại ca tự sáng chế ra kiếm pháp là một việc mà người ta đã biết cả rồi.

Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi hỏi:

– Thật ư? Linh San sư muội đã nói với người ta rồi hay sao?

Nghi Lâm cười đáp:

– Chính đại ca đã bảo với Ðiền Bá Quang. Ðại ca chẳng nói là chế ra thứ kiếm pháp ngồi để đâm ruồi nhặng là gì?

Lệnh Hồ Xung cười rộ nói:

– Ðó là tiểu huynh nói nhăng với gã mà sư muội cũng ghi nhớ trong lòng ư?

Gã cười lớn làm đụng đến vết thương, đau phải nhăn mặt lại. Nghi Lâm nói:

– Trời ơi, tiểu muội thật tệ quá, làm cho đại ca phải đau đớn. Ðại ca đừng nói nữa, hãy nằm nghỉ một lúc đi!

Lệnh Hồ Xung nhắm mắt lại, nhưng chỉ một lát lại mở mắt ra nói:

– Tiểu huynh tưởng phong cảnh nơi đây đẹp lắm, nhưng tới bên làn thác nước lại chẳng nhìn thấy ánh hồng đâu.

Nghi Lâm nói:

– Thác nước có cái đẹp của thác nước, ánh hồng có cái đẹp của ánh hồng.

Lệnh Hồ Xung gật đầu đáp:

– Sư muội nói đúng đó. Trên đời chẳng có gì toàn mỹ được. Con người chịu trăm ngìn cay đắng đi kiếm một vật, khi kiếm được vật đó rồi cũng vậy thôi, có khi còn liệng cả vật đó đi nữa.

Nghi Lâm tủm tỉm cười nói:

– Mấy câu này của đại ca có ngụ thiền cơ, nhưng đáng tiếc tiểu muội đức tu hãy còn nông cạn, không hiểu rõ đạo lý bên trong. Giả tỷ gia sư mà nghe thấy nhất định người sẽ giải thích một hồi.

Lệnh Hồ Xung thở dài nói:

– Cái gì mà thiền cơ với chẳng thiền cơ, tiểu huynh có hiểu gì đâu. Chao ôi, mệt quá rồi!

Gã từ từ nhắm mắt lại, rồi dần dần hơi thở trầm trầm, gã đi vào cõi mộng. Nghi Lâm ngồi gác một bên, khẽ xua tay đuổi ruồi muỗi cho gã. Nàng ngồi một lúc lâu, vừa bẻ một cành cây vừa nghĩ thầm:

– Lúc y tỉnh dậy nhất định phải đói bụng, mà chỗ này lại chẳng có gì ăn. Âu là ta lại đi hái một trái dưa hấu nữa để y giải khát và ăn khi tỉnh dậy.

Nghĩ vậy nàng liền rảo bước chạy đến ruộng dưa trẩy thêm một trái. Nàng sợ mình bỏ đi một lúc có thể địch nhân hay dã thú đến xâm phạm Lệnh Hồ Xung liền lật đật chạy về ngay. Nàng thấy gã vẫn nằm ngủ yên mới yên tâm, nhẹ nhàng ngồi xuống một bên. Lệnh Hồ Xung mở mắt ra mỉm cười nói:

– Thế mà tiểu huynh lại tưởng sư muội về rồi.

Nghi Lâm ngơ ngác:

– Tiểu muội về đâu?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Sư phụ cùng các sư tỷ của sư muội chẳng phải đang tìm sư muội đấy ư? Chắc là các vị mong sư muội lắm!

Nghi Lâm chưa nghĩ đến chuyện này, nay nàng nghe Lệnh Hồ Xung nói vậy thì trong lòng nóng nảy, tự hỏi:

– Sáng mai mình về gặp sư phụ, không hiểu lão nhân gia có trách phạt không?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Tiểu sư muội, tiểu huynh đa tạ sư muội đã chiếu cố cho nửa ngày. Tính mạng tiểu huynh là do sư muội cứu sống! Sư muội nên về sớm đi!

Nghi Lâm lắc đầu, đáp:

– Không được! Ở chốn hoang sơn dã lĩnh này đại ca không có người phục thị thì làm thế nào?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Tiểu sư muội chịu khó ghé vào nhà Lưu sư thúc ở Hành Sơn khẽ nói cho bọn sư đệ của tiểu huynh hay để bọn họ đến đây trông nom cho tiểu huynh.

Nghi Lâm lòng như se lại, nàng nghĩ thầm:

– Té ra y muốn cho Linh San sư muội của y đến bầu bạn, y chỉ mong mình đi kêu cô ta tới càng sớm càng tốt.

Rồi nàng không cầm lòng được, dòng châu lệ lả tả tuôn rơi. Lệnh Hồ Xung thấy nàng tự nhiên sa lệ rất lấy làm kỳ, ngập ngừng hỏi:

– Tiểu sư muội, sư muội… làm sao mà khóc? Có phải sư muội sợ lệnh sư trách phạt không?

Nghi Lâm lắc đầu. Lệnh Hồ Xung lại nói:

– À phải rồi, sư muội sợ dọc đường lại chạm trán Ðiền Bá Quang. Nhưng không có gì đáng ngại đâu, từ nay gã có gặp sư muội thì sẽ lẩn tránh, không dám chạm mặt đâu.

Nghi Lâm lại lắc đầu. Lệnh Hồ Xung chợt nhìn thấy quả dưa, gã ra chiều tỉnh ngộ, nói:

– Ồ! Sư muội lại vì tiểu huynh mà phạm giới luật sư môn nên trong lòng hối hận phải không? Ðó là tội nghiệt của tiểu huynh, không can dự gì đến sư muội.

Nghi Lâm vẫn lắc đầu, hai hàng châu lệ nhỏ giọt lớn hơn xuống vạt áo. Lệnh Hồ Xung thấy Nghi Lâm khóc sướt mướt, gã không hiểu tại sao đành tìm lời dỗ dành:

– Tiểu huynh ăn nói lầm lỡ, tiểu huynh xin lỗi, tiểu sư muội đừng buồn nữa.

Nghi Lâm thấy gã nói năng ngọt ngào thì trong lòng cũng đã nguôi nguôi, nhưng nàng lại nghĩ rằng:

– Y nói những câu này hiển nhiên là thói quen y thường dùng để xin lỗi tiểu sư muội của y, bây giờ y lại buột miệng nói ra chứ có tha thiết gì với mình đâu.

Ðột nhiên nàng lại oà lên khóc ròng, vừa khóc vừa giậm chân nói:

– Tôi không phải là.. tiểu sư muội của đại ca… Ðại ca… đại ca trong lòng đại ca lại nhớ tới cô tiểu sư muội kia…

Nàng vừa buột miệng nói câu này liền nghĩ ngay tới mình là người xuất gia, đâu có thể nói thế được, bất giác nàng thẹn đỏ mặt, vội quay đầu nhìn ra chỗ khác. Lệnh Hồ Xung thấy Nghi Lâm đột nhiên mặt đỏ lên, nước mắt vẫn trào ra không ngớt, coi chẳng khác gì đóa mai côi giữa ngày xuân còn đượm sương lúc ban mai, vẻ tươi đẹp không bút nào tả xiết, gã lẩm bẩm:

– Té ra cô này cũng đẹp quá, có phần hơn cả Linh San muội tử.

Gã ngẩn người, dịu dàng hỏi:

– Sư muội đã nhỏ tuổi hơn ta mà Ngũ Nhạc kiếm phái chúng ta cùng trong thanh khí, tự nhiên cô cũng là tiểu sư muội ta chứ sao. Tiểu huynh có điều chi đắc tội với tiểu sư muội, xin tiểu sư muội cứ nói trắng ra có được không?

Nghi Lâm đáp:

– Lệnh Hồ đại ca chẳng có điều chi đắc tội với tiểu muội cả, đại ca chỉ muốn tiểu muội lánh xa ngay để đại ca khỏi nhìn thấy cho vướng mắt, đại ca bực mình vì tiểu muội làm liên lụy đến đại ca, đại ca đã bảo là hễ gặp ni cô là đánh đâu thua đó…

Nàng nói tới đây lại khóc òa lên. Lệnh Hồ Xung không nhịn được cười, bụng bảo dạ:

– Té ra cô này vẫn còn cay cú về mấy câu mình nói ở trên lầu Túy Tiên bữa trước. Kiểu này không xin lỗi cô không xong.

Gã nghĩ vậy liền nói:

– Lệnh Hồ Xung này bữa trước thật là đáng chết, ăn nói không biết lựa lời. Hôm trên lầu Túy Tiên quả đã nói nhăng, nói càn, đắc tội với toàn thể quý phái từ trên xuống dưới. Phải đánh đòn!

Gã giơ tay lên tự tát vào mặt mình hai cái “bốp, bốp”. Nghi Lâm vội quay lại, đưa tay lên ngăn cản, nói:

– Ðừng… đừng đánh nữa!… Tiểu muội không trách đại ca mà chỉ sợ liên lụy đến đại ca.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Ðáng đánh lắm! Còn phải đánh nữa!

Gã vung tay trái lên lại tát vào má bên tả cái nữa. Nghi Lâm vội nói:

– Tiểu muội không phiền trách đại ca mà! Lệnh Hồ đại ca, đại ca.. đừng đánh nữa.

Lệnh Hồ Xung hỏi:

– Tiểu sư muội không giận tiểu huynh nữa ư?

Nghi Lâm lắc đầu. Lệnh Hồ Xung nói:

– Tiểu sư muội không cười thì đã hết giận thế nào được?

Nghi Lâm gắng gượng cười lên một tiếng, nhưng trong tiếng cười nàng nghĩ tới thân thế không khỏi buồn tủi, hai hàng nước mắt lại trào ra, vội quay đi. Lệnh Hồ Xung thấy nàng khóc hoài liền buông một tiếng thở dài. Nghi Lâm dần dần nín khóc, buồn rầu hỏi:

– Tại sao… Lệnh Hồ đại ca… lại thở dài?

Lệnh Hồ Xung cười thầm trong bụng, tự nhủ:

– Thế là cô này mắc bẫy mình rồi.

Nguyên gã bầu bạn với Nhạc Linh San từ thuở nhỏ. Thỉnh thoảng cô lại giở tính con nít, lúc bực mình lên là khóc, bất luận gã nói gì hay dỗ dành thế nào cô ta cũng chẳng thèm nghe. Lúc đó gã liền giả bộ buồn thiu, làm cho cô phải động tính hiếu kỳ, quay lại hỏi han. Nghi Lâm từ thuở nhỏ chưa từng quen thói nhõng nhẽo với ai nên lại càng dễ mắc bẫy Lệnh Hồ Xung. Gã thấy cô hỏi vậy lại thở dài quay đi chứ không nói gì. Nghi Lâm lại hỏi:

– Lệnh Hồ đại ca, đại ca giận tiểu muội rồi ư? Tiểu muội đắc tội với đại ca… đại ca đừng để tâm làm chi!

Lệnh Hồ Xung nói:

– Không, tiểu sư muội chẳng có điều chi đắc tội với tiểu huynh cả.

Nghi Lâm thấy gã lộ vẻ buồn rầu, nhưng thực ra gã đang cười thầm trong bụng, chỉ giả vờ ngoài mặt thế thôi. Nàng nóng nảy nói:

– Tiểu muội làm cho đại ca phiền lòng tự tát mình, bây giờ tiểu muội… phải đền tội.

Nàng nói rồi giơ tay lên tự tát vào mặt đánh “bốp” một tiếng. Nàng toan tát cái thứ hai thì Lệnh Hồ Xung vội xoay mình giơ tay ra nắm lấy tay nàng. Song vì cử động mạnh vết thương lại nổi cơn đau, gã không nhịn được, bật tiếng rên la. Nghi Lâm vội kêu lên:

– Trời ơi! Ðại ca…. nằm xuống mau! Chớ làm vết thương lại rách ra.

Nàng đỡ gã từ từ đặt nằm xuống và tự trách mình:

– Trời ơi, tiểu muội thật là ngu xuẩn. Lệnh Hồ đại ca, đại ca… đau lắm phải không?

Vết thương Lệnh Hồ Xung phát đau, giả tỷ lúc bình thời, gã quyết không chịu thừa nhận, nhưng bây giờ gã nghĩ ra một kế, bụng bảo dạ:

– Mình phải làm thế này thì cô ta mới hết khóc và bật cười lên được.

Gã liền chau mày rồi hắng giọng luôn mấy tiếng. Nghi Lâm kinh hãi nói:

– Chỉ cần sao… Lệnh Hồ đại ca giữ cho vết thương đừng ra máu nữa mới được.

Nàng đưa tay lên sờ trán gã một lúc rồi khẽ hỏi:

– Ðại ca đã thấy bớt đau chút nào chưa?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Hãy còn đau lắm.

Nghi Lâm nét mặt rầu rầu, không biết làm thế nào.

Lệnh Hồ Xung lại la lên:

– Trời ơi! Đau quá! Nếu có… Lục sư đệ ở đây thì hay biết mấy.

Nghi Lâm hỏi:

– Sao? Trong người y có thuốc chữa đau ư?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Phải rồi! Cái miệng y là thuốc chữa đau đó. Trước kia tiểu huynh cũng bị thương, đau đớn vô cùng, Lục sư đệ làm trò cười, môi miệng liến thoắng, tiểu huynh nghe mà khoan khoái trong lòng nên quên cả đau đớn. Hỡi ôi, y mà ở đây thì hay quá!… Úi chao!… Sao ta đau thế này?

Nghi Lâm rất lấy làm khó nghĩ. Nàng là đệ tử Ðịnh Dật sư thái. Tại Bạch Vân am mọi người đều nghiêm nghị tụng kinh niệm Phật, hoặc vận công luyện kiếm, trong chùa hàng tháng không thấy một tiếng cười, bây giờ bảo nàng nói chuyện đùa giỡn thì thật khó khăn vô cùng.

Nàng bụng bảo dạ:

– Lục sư huynh hiện không có ở đây mà Lệnh Hồ đại ca lại muốn nghe chuyện cười thì chỉ có mình nói cho y nghe. Nhưng… mình chẳng biết câu chuyện gì làm cho y vui cười được.

Ðột nhiên nàng xúc động tâm linh, chợt nhớ ra điều gì liền nói:

– Lệnh Hồ đại ca, tiểu muội chẳng biết câu chuyện cười nào hết, nhưng đã được coi ở trong Tàng Kinh các một cuốn kinh rất thụ vị, kêu bằng Bách Dụ kinh, đại ca đã nghe bao giờ chưa?

Lệnh Hồ Xung lắc đầu, đáp:

– Chưa! Tiểu huynh suốt đời chả bao giờ đọc kinh Phật cả.

Nghi Lâm hai má ửng hồng, nói:

– Tiểu muội thật ngốc quá nên mới hỏi câu ngu dốt như vậy. Ðại ca đã không phải là đệ tử nhà Phật thì dĩ nhiên không đọc kinh sách.

Nàng ngừng lại một chút rồi nói tiếp:

– Cuốn Bách Dụ kinh đó do một vị cao tăng ở nước Thiên Trúc biên soạn. Trong kinh này có khá nhiều truyện cổ tích rất thú vị.

Lệnh Hồ Xung đang muốn nghe nàng kể truyện cổ tích nên vội nói:

– Hay lắm! Tiểu huynh rất thích truyện cổ tích, tiểu sư muội kể vài truyện cho tiểu huynh nghe đi!

Nghi Lâm tủm tỉm cười, nàng đáp:

– Ðược rồi, tiểu muội kể câu truyện “Lấy răng bừa đánh vỡ đầu trọc” nhé. Ngày trước có một người trọc lốc, trên đầu không có lấy một sợi tóc. Ðầu y nhẵn thín từ lúc sơ sinh chứ không phải như bọn tiểu muội vì xuất gia mà thế phát quy y. Một hôm không hiểu vì chuyện gì xích mích mà lão trọc kia gây lộn với một nhà nông. Nhà nông đang cày ruộng liền vác cày giơ lên đánh vào đầu lão trọc. Lão trọc sứt đầu chảy máu nhưng lặng lẽ chịu đựng, trên nét mặt còn lộ nụ cười. Những người đứng bên lấy làm kỳ, hỏi: “Sao lão lại còn cười?” Người trọc cười đáp: “Gã nông phu này là một tên ngốc. Gã thấy đầu ta không có tóc, tưởng lầm là hòn đá mới lấy răng bừa mà nện. Nếu ta né tránh, há chẳng dạy cho gã biến thành người thông minh hay sao?”

Nàng nói tới đây Lệnh Hồ Xung rũ ra mà cười và cất tiếng khen:

– Truyện hay quá! Lão trọc đó thật là thông minh!

Nghi Lâm thấy Lệnh Hồ Xung vui cười thỏa thích liền nói:

– Tiểu muội kể câu truyện “Dùng thuốc chữa cho con gái nhà vua chóng lớn như thổi” nhé. Ðời xưa có một vị quốc vương, sinh được một nàng công chúa. Nhà vua tính tình cực kỳ nóng nảy. Thấy công chúa nhỏ bé quá, ngài mong cô con lớn thật mau, liền mời ngự y vào, truyền cho phải chế ra một thứ linh dược để công chúa uống, đặng lớn ngay lập tức. Quan ngự y đáp: “Thứ linh dược này có thể làm được, nhưng còn phải tìm nhiều thứ dược vật, và chế biến cũng tốn công lắm. Bây giờ thần xin chúa thượng cho đưa công chúa về nhà, đồng thời gấp rút chế thuốc. Chúa thượng không nên thúc bách mà hư việc”. Quốc vương gật đầu đáp: “Ðược lắm! Quả nhân để cho khanh từ từ mà làm, không thúc bách”. Quan ngự y liền đưa công chúa về nhà. Hàng ngày y vào tâu vua là đang tập trung dược liệu hoặc đang chế luyện. Sau mười hai năm quan ngự y mới tâu: “Ðến nay linh dược đã chế luyện xong, và vừa cho công chúa uống”. Hôm sau y đưa công chúa vào cung bệ kiến quốc vương. Quốc vương thấy ngày nọ công chúa là một đứa hài nhi mà bây giờ đã thành một thiếu nữ đứng trước mặt thì long nhan hớn hở, khen cho ngự y tinh thâm y đạo, đoạn sai tả hữu ban vàng bạc châu báu rất hậu cho quan ngự y.

Lệnh Hồ Xung nghe xong cười ha hả nói:

– Tiểu sư muội bảo vị quốc vương đó tính tình nóng nảy mà thực ra chẳng nóng nảy chút nào. Nếu ngài nóng nảy đã không chờ đợi tới 12 năm. Nếu ở địa tiểu huynh là viên ngự y kia thì chỉ trong một ngày là đã làm cho công chúa biến thành một thiếu nữ cao lớn 17, 18 tuổi rồi.

Nghi Lâm giương cặp mắt thao láo lên hỏi:

– Lệnh Hồ đại ca dùng phép gì vậy?

Lệnh Hồ Xung mỉm cười đáp:

– Dễ lắm! Ngoài xát Thiên Hương Đoạn Tục Giao, trong uống Hùng Đởm hoàn.

Nghi Lâm cười hỏi:

– Ðó là thuốc trị thương, làm sao lại khiến cho người mau cao lớn được?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Ðúng thế! Tiểu huynh sẽ mời bốn người thợ may…

Nghi Lâm lấy làm kỳ, ngắt lời:

– Mời bốn người thợ may đến làm chi?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Ðể may một bộ y phục mới. Ta nhờ họ đo người tiểu sư muội và bảo họ may suốt đêm cho xong bộ xiêm y của công chúa, đến sáng hôm sau ta cho tiểu sư muội đầu đội mũ Linh Phụng, mình mặc áo gấm bách hoa, chân đi hài thêu. Tiểu sư muội ăn mặc lộng lẫy như vậy rồi thướt tha đến trước Kim loan điện tung hô vạn tuế, uốn mình lạy xuống tâu: “Muôn tâu phụ vương, hài nhi uống linh hoàn diệu dược của quan ngự y Lệnh Hồ Xung nên mới một đêm mà đã lớn bằng người 17, 18 tuổi”. Ðức vua kia thấy mình có một vị công chúa diễm lệ, khả ái như vậy tất nhiên mặt rồng hớn hở, còn hỏi gì đến chuyện thật giả nữa? Ta là quan ngự y Lệnh Hồ Xung dĩ nhiên cũng được trọng thưởng.

Nghi Lâm cười khanh khách, cười đến vẹo cả xương sống, xương sườn, không đứng ngay lên được. Hồi lâu nàng mới nói:

– Lệnh Hồ đại ca quả nhiên còn thông minh hơn viên ngự y trong Bách Dụ kinh nhiều lắm. Có điều đáng tiếc là tiểu muội… xấu xa thế này, chẳng giống công chúa chút nào cả.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Nếu tiểu sư muội mà còn xấu thì trong thiên hạ làm gì có người đẹp? Tự cổ chí kim hàng ngàn, hàng vạn công chúa mà có cô nào bằng sư muội đâu.

Nghi Lâm nghe gã tán dương mình trong bụng mừng thầm, cười hỏi:

– Ðại ca đã thấy mặt cả hàng ngàn, hàng vạn công chúa rồi ư?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Dĩ nhiên là thế! Tiểu huynh gặp các vị đó ở trong mộng.

Nghi Lâm cười hỏi:

– Ðại ca mộng gì mà kỳ vậy? Ai đời lại chỉ mộng thấy công chúa bao giờ?

Lệnh Hồ Xung cười hề hề, đáp:

– Ban ngày mơ tưởng đến thì ban đêm…

Nhưng gã nghĩ ngay đến Nghi Lâm là con người băng thanh ngọc khiết, bản tính ngây thơ, chất phác, mà lại là một nữ ni nhỏ tuổi không có tà tâm liền tự trách: “Mình nói giỡn đã là phạm vào giới luật của sư môn cô, sao còn dám buông lời chớt nhả thế được?” Gã nghĩ tới đây lập tức vẻ mặt nghiêm trang, giả vờ ngáp dài một cái. Nghi Lâm nói:

– Ồ, Lệnh Hồ đại ca lại mệt rồi, nên nhắm mắt ngủ đi một lúc.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Hay quá, chuyện vui của tiểu sư muội thật là linh nghiệm, vết thương của tiểu huynh quả nhiên bớt đau rồi.

Bản tâm gã muốn cho Nghi Lâm có câu chuyện vui cười để nàng khỏi sụt sùi khóc lóc, bây giờ nàng đã ra chiều hả hê, gã liền nhắm mắt lại. Nghi Lâm ngồi bên Lệnh Hồ Xung khẽ phất cành cây đuổi ruồi cho gã. Hiện thời vào giữa mùa hạ, ngày dài, bốn mặt ve sầu kêu rên rỉ, trong khe suối ếch nhái kêu inh ỏi, những tiếng côn trùng liên miên bất tuyệt, tựa hồ khúc nhạc giục người đi vào cõi mộng. Nghi Lâm thấy cặp mắt nặng trĩu, rồi nàng cũng đi vào giấc ngủ triền miên. Nàng nằm mơ thấy mình mặc bộ áo hoa lệ như một vị công chúa, tới một tòa cung điện huy hoàng. Ðứng bên nàng là một chàng thanh niên tuấn tú đang dắt mình, thanh niên này hao hao giống Lệnh Hồ Xung. Tiếp theo nàng thấy dưới chân có đám mây ùn ùn nổi lên, tựa hồ hai người lơ lửng bay trên lưng chừng trời. Nàng cảm thấy trong lòng khoan khoái khôn tả. Ðột nhiên một vị nữ ni tuổi già trừng mắt giận dữ, chống kiếm đuổi tới. Nghi Lâm giật mình kinh sợ. Nàng nghe rõ tiếng sư phụ quát:

– Quân tiểu súc sinh này, mi thật là lớn mật, dám giả làm công chúa, lại cùng một tên lãng tử cận kề với nhau.

Mu nắm lấy tay nàng kéo mạnh một cái, mắt nàng tối sầm lại, không nhìn thấy Lệnh Hồ Xung đâu nữa, lơ lửng trong đám mây đen đang lộn nhào xuống. Nghi Lâm sợ quá la thất thanh:

– Lệnh Hồ đại ca! Lệnh Hồ đại ca!

Rồi cảm thấy toàn thân nhũn ra không nhúc nhích, cựa quậy được. Nghi Lâm la gọi mấy tiếng, giật mình tỉnh dậy, thì ra là một giấc mơ. Nàng ngó thấy Lệnh Hồ Xung đang trố mắt ra nhìn mình, thẹn quá, hai má đỏ bừng, ấp úng:

– Tiểu muội… tiểu muội…

Rồi nàng không nói ra lời nữa. Hai tay nàng để áp lên ngực như trong giấc ngủ. Lệnh Hồ Xung hỏi:

– Tiểu sư muội nằm mơ phải không?

Nghi Lâm lại đỏ mặt lên đáp:

– Tiểu muội chẳng hiểu có phải thế không.

Bỗng nàng ngó thấy Lệnh Hồ Xung đang lộ vẻ rất kỳ quái, tựa hồ đang cố nén cơn đau, liền hỏi ngay:

– Ðại ca… Vết thương đại ca lại đau lắm phải không?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Không sao cả.

Nhưng thanh âm gã phát run. Lát sau mồ hôi trán to bằng hạt đậu nhỏ giọt. Gã đang đau đớn vô cùng, không cần hỏi cũng biết. Nghi Lâm cực kỳ kinh hãi hỏi:

– Làm thế nào bây giờ? Làm thế nào bây giờ?

Nàng lấy khăn tay ra lau mồ hôi cho gã. Ngón tay nàng vừa đụng vào trán thấy nóng như lửa. Nàng từng nghe sư phụ nói một người bị đao thương chém mà phát nóng dữ dội là tình thế nguy hiểm vô cùng. Trong lúc cấp bách nàng không tự chủ được nữa, cất tiếng niệm kinh:

– Dù là trăm ngàn vạn ức chúng sinh, chịu nhiều khổ não, quyết tâm niệm đức Quan Thế Âm bồ tát, ngài nghe thanh âm lập tức đến giải thoát cho. Ðã có Quan Thế Âm bồ tát thì dù vào giữa đống lửa cũng không bị cháy vì có oai thần của đức bồ tát. Nếu sa xuống biển cả, đọc danh hiệu ngài liền gặp chỗ nông.

Nàng niệm đây là Diệu Pháp Liên Hoa kinh của đức Quan Thế Âm bồ tát. Ban đầu thanh âm còn run run, nhưng sau khi niệm một hồi, tâm thần dần dần trấn tĩnh lại. Lệnh Hồ Xung nghe thanh âm trong trẻo, hòa bình và an tĩnh, hiển nhiên có đầy đủ tín tâm về phép thần thông của kinh văn. Nghi Lâm tiếp tục niệm:

– Nếu người đang ngộ hại mà niệm danh hiệu của đức Quan Thế Âm bồ tát thì Người sẽ cầm đao trượng mà giải thoát cho. Nếu ở trong ba ngàn quốc thổ có Dạ Xoa, La Sát muốn đến hại người mà niệm danh đức Quan Thế Âm bồ tát thì lũ quỉ không dám đưa căp mắt độc ác ra mà nhìn, khi nào còn gia hại được? Nếu có tội, thân thể bị trói buộc mà niệm đức Quan Thế Âm bồ tát thì dây cột đứt hết và được giải thoát.

Lệnh Hồ Xung càng nghe lại càng buồn cười, sau gã không nhịn được, bật lên tiếng cười khành khạch. Nghi Lâm lấy làm kỳ, hỏi:

– Có chi mà cười?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Tiểu huynh mà biết sớm thế này thì học thêm võ công “Lao Thập Tử” gì gì đó, khi kẻ thù ác ôn muốn giết tiểu huynh, tiểu huynh.. chỉ niệm danh hiệu đức Quan Âm bồ tát là đao trượng của chúng phải đứt ra từng khúc, há chẳng bình yên ư?

Nghi Lâm nghiêm sắc mặt, nói:

– Lệnh Hồ đại ca! Ðại ca đừng khinh mạn đức bồ tát. Nếu tâm không thành thì niệm kinh cũng bằng vô ích.

Rồi nàng tiếp tục niệm:

– Nếu bị ác thú vây quanh, giương nanh múa vuốt khủng khiếp, mà niệm danh hiệu đức Quan Thế Âm bồ tát thì chúng cũng phải biến hết. Nếu gặp rắn rắt hoặc khí độc, lửa cháy mà niệm đức Quan Thế Âm bồ tát thì tai nạn bay đi. Nếu gặp mưa gió sấm chớp mà niệm đức Quan Thế Âm bồ tát là lập tức tiêu tan. Chúng sinh bị khốn đốn, khổ não vô cùng, diệu lực của đức Quan Thế Âm bồ tát cứu được cái khổ cho thế gian.

Lệnh Hồ Xung nghe Nghi Lâm niệm với cả tấm lòng thành, thanh âm tuy rất nhỏ mà bao nhiêu tâm đặt vào đức Quan Thế Âm bồ tát để cầu cứu cả. Thanh âm nàng tựa hồ như năn nỉ:

– Quan Thế Âm bồ tát! Cầu ngài đem bao nhiêu những đau khổ trên mình đại ca chuyển hết sang người đệ tử. Ðệ tử dù có phải vào biển trầm luân hay xuống địa ngục cũng đành, chỉ cầu đức bồ tát giải thoát cho đại ca tai qua nạn khỏi.

Về sau Lệnh Hồ Xung không nghe đến ý nghĩa của kinh văn mà chỉ nghe như thanh âm cầu đảo một cách rất khẩn thiết và nhiệt thành, bất giác mắt gã đẫm lệ. Từ thuở nhỏ gã không cha mẹ, sư phụ, sư mẫu tuy có ân thâm với gã nhưng gã là người bướng bỉnh, phải đòn nhiều hơn là được lòng từ ái. Bọn sư đệ, sư muội đều kính cẩn và coi gã là đại sư huynh chứ không ai dám trái gã. Nhạc Linh San tuy mới quen với gã mà tha thiết đến độ vui lòng chịu đựng trăm ngàn đau khổ để giải thoát cho gã được bình an, thành tâm niệm phật giải nạn cho gã thì bầu nhiệt huyết bên trong sôi lên, và trong mắt gã thấy toàn thân Nghi Lâm phát ra ánh sáng khả kính.

Nghi Lâm niệm kinh thanh âm mỗi lúc một êm dịu, tưởng chừng như trong tay nàng có cầm một cành dương thực sự, vẩy nước nhiệm màu, cứu khổ cứu nạn của Quân Âm đại sĩ. Mỗi câu niệm của nàng là một lời thỉnh nguyện chân thành, Lệnh Hồ Xung thấy trong lòng vừa cảm kích, vừa được an ủi, bất giác nhiệt độ lui dần. Tiếng niệm kinh ôn hòa đưa gã vào cõi mộng.

Khu sơn dã này yên tĩnh, nhưng trong Lưu phủ ở Hành Sơn, nơi quần hùng tụ hội, vừa diễn ra một trường khoa kiếm giương cung, một trận gió tanh mưa máu. Nhắc lại chuyện Nhạc Bất Quần thu Lâm Bình Chi vào làm môn hạ rồi đi thẳng tới Lưu phủ dự hội. Lưu Chính Phong được tin vừa kinh ngạc, vừa mừng thầm. Lão không ngờ nhân vật lớn tiếng trong võ lâm như Quân Tử Kiếm, chưởng môn phái Hoa Sơn cũng thân hành đến mừng. Lão lật đật ra tận ngoài xa nghênh tiếp, miệng không ngớt ngỏ lời cảm tạ. Nhạc Bất Quần hết sức khiêm nhượng, vẻ mặt tươi cười đưa câu chúc hạ, rồi cùng Lưu Chính Phong dắt tay tiến vào cổng lớn. Bọn Thiên Môn đạo nhân, Ðịnh Dật sư thái, Dư Thương Hải, Văn tiên sinh, Hà Tam Thất cũng xuống thềm nghinh tiếp, trao đổi mấy câu chuyện hàn huyên. Dư Thương Hải trong lòng ôm mối hoài nghi, bụng bảo dạ:

– Chưởng môn phái Hoa Sơn thân hành tới đây tất vì mình, chắc không phải vì nể mặt Lưu Chính Phong. Bọn Ngũ Nhạc kiếm phái của y tuy người nhiều thế mạnh, song nếu Nhạc Bất Quần mà buông lời khiếm nhã thì mình sẽ chất vấn trước về cái tội Lệnh Hồ Xung vào ngủ trong kỹ viện và hỏi y xem đó là đường lối gì? Nếu y trở mặt thì mình sẽ động thủ.

Ngờ đâu Nhạc Bất Quần lại xá dài, cung kính nói:

– Dư quán chủ, lâu năm không gặp, quán chủ càng tinh thần hơn trước. Tại hạ nghe nói quán chủ đã luyện được môn Hạc Lệ Cửu Tiên thần công độc đáo của quý phái, thật là đáng mừng.

Dư Thương Hải giật mình kinh hãi, nghĩ thầm:

– Môn Hạc Lệ Cửu Tiên thần công quả mình đã luyện được đến nơi, chỉ còn ba phần hỏa hầu chưa đủ, thế mà lão này đã được tin tức mau lẹ đưa đến tai rồi.

Nhưng trước mặt nhiều tay cao thủ lão chỉ hàm hồ đáp:

– Môn Hạc Lệ Cửu Tiên thần công kể ra tại hạ đã luyện tạm được, nhưng nói là thành công thì không dám.

Lão vừa ra chiều hãnh diện, vừa tỏ vẻ khiêm cung bằng câu nói mập mờ. Bọn Thiên Môn đạo nhân, Ðịnh Dật sư thái đều run lên, vì họ biết Hạc Lệ Cửu Tiên thần công là một công phu uy lực phi thường của phái Thanh Thành, mấy trăm năm nay chưa nghe thấy ai luyện nổi. Họ còn cho là môn đó đã thất truyền từ lâu, không ngờ lão đạo sĩ loắt choắt này lại ngấm ngầm khổ công luyện được thành tựu. Thảo nào mấy bữa nay lão có vẻ phách lối, không coi ai ra gì, thì ra lão ỷ vào thần công này. Ðang lúc nói chuyện, trong Lưu phủ lại có tân khách, các ngả lục tục kéo đến.

Bữa nay là ngày chính tiệc mừng “Rửa tay gác kiếm” của Lưu Chính Phong. Bắt đầu giờ Tỵ, Lưu Chính Phong lui vào nội đường, giao cho đệ tử chiêu đãi tân khách. Gần tới giờ Ngọ, hơn hai trăm vị khách xa kéo tới đông như nước chảy. Nào phó bang chủ Cái Bang là Trương Kim Ngao Ngư, nào Hạ lão quyền sư trong Lục Hợp môn ở Trịnh Châu, dẫn theo ba chàng rể, nào Thiết mỗ mỗ trên ngọn Thần Nữ dãy Tam Giác ở Xuyên Ngạc, nào bang chúa Phan Hống của bang Hải Sa ngoài Ðông Hải, nào Ðiểm Thương Nhị Hữu là Thần Ðao Bạch Khắc và Thần Bút Lưu Tây Tư… lục tục kéo đến. Trong những bọn này có người quen biết, có người chỉ là hâm mộ thanh danh Lưu Chính Phong mà đến. Thiên Môn đạo nhân cùng Ðịnh Dật sư thái chia nhau vào nghỉ trong sương phòng riêng biệt, không đi chào hỏi mọi người, bụng bảo dạ:

– Lưu Chính Phong là tay cao thủ phái Hành Sơn mà sao không biết tự trọng, lại đi kết giao cả với những người chẳng rõ lai lịch trên chốn giang hồ. Y làm như vậy há chẳng tổn hại đến thanh danh của Ngũ Nhạc kiếm phái mình?

Chỉ có Nhạc Bất Quần tên gọi Bất Quần mà tính tình lại thích kết bạn, trong những bọn khách có hạng tầm thường vô danh, hoặc người không rõ tiếng tăm, song lão gặp ai cũng niềm nở nói cười, không hề đưa cái chiêu bài chưởng môn phái Hoa Sơn ra.

Lúc này bọn đệ tử chỉ huy đám bộc dịch nhà bếp nhộn nhịp sắp đặt hơn 200 chiếc chiếu tiệc. Nội đệ Lưu Chính Phong là Khoái Mã Phương Thiên Câu và bọn đệ tử Hướng Ðại Niên, Mễ Ỗ Nghĩa của nhà họ Lưu nghiêm trang mời tân khách vào tiệc. Theo địa vị cùng danh vọng trong võ lâm thì chưởng môn phái Thái Sơn là Thiên Môn đạo nhân đáng ngồi chủ tịch, nhưng Ngũ Nhạc kiếm phái đã kết minh với nhau, Thiên Môn đạo nhân và Nhạc Bất Quần, Ðịnh Dật sư thái… giữ địa vị một nửa làm chủ nhân nên không tiện ngồi trên, đều lùi cả lại để nhường chỗ cho khách. Các bậc tiền bối võ lâm nhường nhịn nhau hoài, không ai chịu ngồi vào chủ vị. Bỗng mấy tiếng còng “bong bong” từ cổng ngoài báo vào, tiếp theo âm nhạc nổi lên, đồng thời văng vẳng tiếng loa dẹp đường, hiển nhiên có vị quan nào đó đi tới cổng ngoài. Quần hùng đang sửng sốt thì thấy Lưu Chính Phong mặc áo trường bào bằng gấm, lật đật từ nội đường chạy ra. Lát sau thấy lão kính cẩn đón tiếp một viên quan mặc phẩm phục đi tới. Quần hùng đều rất lấy làm kỳ, tự hỏi:

– Chẳng lẽ viên quan này lại là một cao thủ võ lâm?

Họ thấy y tuy xiêm áo huy hoàng nhưng cặp mắt lờ đờ, đầy vẻ tửu sắc, hiển nhiên không phải là con người bản lĩnh cao cường.

Nhạc Bất Quần bụng bảo dạ:

– Lưu Chính Phong là một nhà nhân sĩ nổi danh ở Hành Sơn, thường kết giao với quan nha, bữa nay là ngày đại hỉ của lão, quan địa phương đến mừng cũng chẳng có gì là lạ.

Viên quan kia ngang nhiên đi vào, bệ vệ đứng giữa, sau lão bọn nha dịch quỳ một gối xuống, hai tay giơ cao quá đỉnh đầu một cái khay phủ đoạn vàng, trên khay đặt một cuốn trục. Viên quan kia khom lưng đón lấy cuốn trục, nói:

– Ðây là thánh chỉ của đức kim thượng. Lưu Chính Phong hãy nghe tuyên chiếu!

Quần hùng thấy thế đều giật mình kinh ngạc, tự hỏi:

– Bữa nay Lưu Chính Phong rửa tay chậu vàng, gói kiếm quy ẩn, đều là những chuyện riêng trên chốn giang hồ, có liên quan gì đến triều đình, sao hoàng đế lại thánh chỉ tới? Hay là Lưu Chính Phong mưu đồ việc đại nghịch, bị triều đình phát giác?

Mọi người đều có một nghĩ như vậy, ai nấy liền đứng lên không nói gì, lấy binh khí ra cầm tay. Họ cho rằng viên quan này đã đến đây tuyên đọc thánh chỉ thì tất nhiên đã bố trí quan binh vây bốn mặt Lưu phủ, và không tài nào tránh khỏi một cuộc ác chiến. Cái ổ vỡ làm gì còn có quả trứng toàn vẹn, chỉ lát nữa chờ cho Lưu Chính Phong biến sắc quát mắng lệnh quan là mọi người sẽ xô vào chém nát nhừ viên quan này. Ngờ đâu Lưu Chính Phong vẫn bình tĩnh như thường. Lão quỳ gối xuống, hướng về viên quan sụp lạy ba lạy, lớn tiếng nói:

– Kẻ vi thần là Lưu Chính Phong xin nghe thánh chỉ. Kính chúc ngô hoàng vạn tuế, vạn vạn tuế.

Quần hùng nghe thấy chẳng ai là không ngạc nhiên. Viên quan kia mở cuốn trục ra tuyên đọc:

– Cứ Tuần Phủ tỉnh Hà Nam tâu trình: “Kẻ thứ dân ở huyện Hành Sơn là Lưu Chính Phong đã giỏi nghề cung, kiếm, lại sốt sắng với công vụ, tài y đáng nên trọng dụng”, vậy phong cho y chức Tham Tướng để từ đây y vì triều đình gắng sức. Khâm thử!

Lưu Chính Phong rập đầu, nói:

– Vi thần là Lưu Chính Phong bái tạ hoàng ân, cầu chúc thánh thượng muôn năm.

Lão đứng lên nhìn viên quan, khom lưng nói tiếp:

– Ða tạ Trương đại nhân đã có lòng đề bạt.

Viên quan vuốt râu, mỉm cười đáp:

– Cung hỉ! Cung hỉ! Lưu tướng quân, từ đây hai ta là nhất diện chi thần, hà tất tướng quân phải khách sáo.

Lưu Chính Phong nói:

– Tiểu tướng nguyên là một kẻ thất phu cỏ dã, bữa nay được triều đình phong cho quan tước, đó là ơn mưa móc của đức hoàng thượng ban cho, khiến cho tiểu tướng được rạng vẻ tổ tông, nhưng cũng là đặc ân của tuần phủ đại nhân và Trương đại nhân đã đặc cách tài bồi.

Viên quan cười nói:

– Không dám! Không dám!

Lưu Chính Phong quay lại hỏi Phương Thiên Câu:

– Phương hiền đệ, lễ vật kính mừng Trương đại nhân đâu?

Phương Thiên Câu đáp:

– Tiểu đệ đã chuẩn bị cả đây rồi.

Gã quay lại lấy một cái hộp, trong hộp đặt một cái bọc gấm. Lưu Chính Phong hai tay bưng lên, cười nói:

– Chút lễ mọn này không đủ tỏ chút lòng thành, mong Trương đại nhân thu nhận cho.

Người được kêu bằng Trương đại nhân cười đáp:

– Ðã là chỗ anh em mà Lưu đại nhân sao còn bày vẽ?

Hắn đưa mắt cho tên sai dịch đứng bên đón lấy. Tên sai dịch tiếp lấy hộp thì hai cánh tay trĩu xuống, hiển nhiên vật trong hộp phân lạng khá nặng, đúng là vàng chứ không phải bạc. Trương đại nhân cười híp mắt lại, nói:

– Tiểu đệ mình mang công vụ, không nán lại được, vậy tiểu đệ uống ba chung rượu để kính mừng Lưu tướng quân bữa nay được phong hàm thụ chức, rồi chẳng bao lâu lại gia quan tiến chức, ân trạch còn nhiều.

Tả hữu rót rượu đưa lên, Trương đại nhân uống cạn ba chung rượu rồi chắp tay, trở gót đi ra. Lưu Chính Phong cũng mặt mày hớn hở, đưa chân ra ngoài cổng lớn. Tiếng chiêng trống lại vang lên, Lưu phủ nội hiệu tiễn khách. Màn kịch này thật ngoài ý nghĩ của quần hùng, mọi người ngơ ngác nhìn nhau, không biết nói thế nào, vẻ mặt vừa bẽn lẽn, vừa kinh ngạc. Bọn tân khách đến Lưu phủ không phải là người hắc đạo, cũng không phải hạng dấy loạn, họ phần lớn đều là những nhân vật có danh vọng trong võ lâm và đều có lòng tự cao, tự phụ. Trước nay họ vẫn coi quan nha không vào đâu, bây giờ thấy Lưu Chính Phong xu phụ thời thế, được hoàng đế phong cho chức Tham Tướng, bất quá chỉ là một chức quan nhỏ bằng hạt vừng, hạt đậu mà đã ra chiều cảm kích muôn vàn, giở điệu bộ nịnh nọt rất khả ố thì trong lòng đều có ý khinh bỉ lão. Có người không nhịn được, lộ vẻ khinh thường ra mặt. Những tân khách lớn tuổi bụng bảo dạ:

– Coi tình hình này thì mũ áo kia đã lấy tiền mua mà có, chẳng hiểu hắn đã mất bao nhiêu vàng bạc mới mua được sự tiến cử của viên tuần phủ.

– Lưu Chính Phong trước nay là người chính trực, sao hắn già còn chưa trót đời, tham lợi, tham lộc, không lựa thủ đoạn để mua lấy chút quan làm gì?

Lưu Chính Phong đi tới trước mặt quần hùng, đầy vẻ hân hoan, mời tân khách vào ngồi. Chỗ chủ vị vẫn không người ngồi, chiếc ghế thái sư vẫn bỏ trống. Hạ lão quyền sư ở Lục hợp môn là người cao niên nhất ngồi ở ghế đầu mé tả. Ghế đầu mé hữu là chỗ của Cái Bang phó bang chủ Trương Kim Ngao Ngư. Trương Kim Ngao Ngư tuy không phải là nhân vật võ nghệ phi thường nhưng Cái Bang là một bang lớn nhất trên chốn giang hồ nên ai cũng kính nể y. Quần hùng lục tục ngồi xuống. Người nhà bày bàn rót rượu. Hướng Ðại Niên bê ra một cổ kỷ trà, trên kỷ phủ bằng gấm đoạn. Phương Thiên Câu hai tay bưng một vật, ánh vàng sáng rực đặt lên kỷ trà, đó là chiếc chậu vàng đường kính dài chừng thước rưỡi. Chậu đựng đầy nước. Bỗng ngoài cửa lại nổi lên ba tiếng cồng “boong boong boong”, tiếp theo là tiếng nổ đì đùng của tám chiếc pháo ống lệnh. Lưu Chính Phong cười ha hả đi vào sảnh đường. Lão chắp tay xá vòng quanh một lượt. Quần hùng đứng lên đáp lễ. Lưu Chính Phong dõng dạc tuyên bố:

– Thưa chúng vị anh hùng và các tiền bối, thưa các vị bằng hữu, thưa các bạn thanh niên! Các vị đã chẳng quản đường xa tới đây, Lưu Chính Phong này hân hạnh vô cùng, cảm kích khôn xiết. Bữa nay tiểu đệ rửa tay chậu vàng, rồi từ đây không hỏi đến chuyện giang hồ nữa. Hẳn các vị cũng đã rõ nguyên nhân, là vì tiểu đệ đã chịu ân điển của triều đình, làm một chức quan nhỏ xíu. Người ta thường nói: “Kẻ vi thần đã ăn lộc của chúa thì phải hết đạo tướng quân”. Các hành động trên chốn giang hồ là theo bề nghĩa khí, còn quốc gia lại là việc công, phải tuân giữ phép nước để báo đền ơn vua, hai đường lối này mâu thuẫn với nhau khiến cho Lưu Chính Phong này lấy làm khó nghĩ. Từ nay trở đi, Lưu mỗ ra khỏi võ lâm, các đệ tử dưới trướng muốn thay đổi sư môn, gia nhập phái khác thì cứ việc tùy tiện. Lưu mỗ mời các vị bằng hữu đến đây để các vị chứng kiến cho. Sau này các vị có đến Hành Sơn, dĩ nhiên Lưu mỗ vẫn là bạn cũ, nhưng bao nhiêu ân oán, thị phi trong võ lâm, Lưu mỗ không hỏi tới nữa.

Lão nói xong lại xá dài. Quần hùng đã liệu trước lão nói câu này, đều bụng bảo dạ:

– Hắn đã định ra làm quan là ý chí riêng của hắn, miễn cưỡng thế nào được? Vả hắn cũng không có điều gì đắc tội với ai thì từ nay trong võ lâm coi như không có hắn nữa mà thôi.

Có người lại nghĩ bụng:

– Hành động này tổn hại đến thanh danh phái Hành Sơn, tất chưởng môn phái này là Mạc Ðại tiên sinh tức giận vô cùng nên mới không chịu tới đây.

Có người bụng bảo dạ:

– Mấy năm nay Ngũ Nhạc kiếm phái là lãnh tụ võ lâm, đi tới đâu làm việc nghĩa hiệp tới đó, khiến mọi người khâm phục. Vậy mà Lưu Chính Phong hành động thế này, tuy trước mặt không ai nói gì nhưng trong lòng không khỏi khó chịu.

Có người lại nghĩ thầm:

– Họ bảo Ngũ Nhạc kiếm phái là những môn phái nghĩa hiệp chi chi, song một khi thấy quan cao lộc hậu là khép nép rập đầu thì còn đâu là hai chữ “nghĩa hiệp”?

Quần hùng mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng, trong nhà đại sảnh yên lặng như tờ. Ðáng lý ra trước tình hình này mọi người phải tới tấp ngỏ lời chúc hạ, nào “phúc thọ toàn quy”, nào “đại trí đại dũng”, vậy mà hơn hai nghìn người chẳng một ai nói câu gì. Lưu Chính Phong vẫn thản nhiên không để ý. Lão quay ra ngoài, dõng dạc nói:

– Ðệ tử là Lưu Chính Phong, chịu ơn ân sư thu vào môn hạ, truyền dạy võ công, chưa làm gì cho rạng rỡ phái Hành Sơn, thật xấu hổ vô cùng! May có Mạc Ðại sư ca cầm đầu bản môn, Lưu Chính Phong này ngu muội thô lỗ thì dù có thêm một mình Lưu mỗ cũng không phải là nhiều, thiếu Lưu mỗ không phải là ít. Từ nay Lưu mỗ rửa tay gác kiếm, chuyên tâm theo đường lối sĩ hoạn, những việc ân oán, thị phi trên chốn giang hồ, hay những cuộc tranh chấp trong các môn phái, Lưu mỗ quyết không hỏi đến, nếu trái lời tuyên bố thì như thanh kiếm này.

Lão xoay tay lại rút thanh trường kiếm trong tay áo ra, khẽ ấn hai tay đánh cắc một tiếng, lưỡi kiếm gãy thành hai đoạn. Lưu Chính Phong bẻ gãy kiếm rồi, tiện tay phóng hai đoạn kiếm xuống. Hai tiếng “kịch kịch” khẽ vang lên, lưỡi kiếm gãy cắm sâu vào trong viên gạch xanh. Quần hùng thấy thế đều kinh dị. Kể ra Lưu Chính Phong vận kình lực để bẻ gãy kiếm thường thì chẳng có chi là kỳ, nhưng lão không phí một chút hơi sức, bẻ gãy bảo kiếm nhẹ nhàng như không thì nội lực ngón tay lão ghê gớm không biết đến thế nào mà kể. Văn tiên sinh thở dài, nói:

– Ðáng tiếc, thật là đáng tiếc!

Lưu Chính Phong lộ vẻ tươi cười, xắn tay áo lên, toan nhấn xuống chậu vàng. Song hai tay lão khi còn cách mặt nước chừng một thước thì bỗng ngoài cổng lớn có tiếng quát:

– Hãy khoan!

Lưu Chính Phong hơi giật mình, ngẩng đầu nhìn ra thì thấy bốn hán tử mặc áo vàng đang tiến vào. Bốn người vào trong cổng chia ra đứng hai bên. Lại thấy một hán tử áo vàng người rất cao ngang nhiên đi vào. Người này tay cầm lá cờ ngũ sắc, nền cờ dát đầy trân châu bảo thạch, bay phất phới và chiếu ra những tia sáng rực rỡ. Nhiều người đã nhận biết lá cơ này, trong lòng kinh hãi liền hô lên:

– Ðây là cờ lệnh của minh chủ Ngũ Nhạc kiếm phái.

Người này đi tới trước mặt Lưu Chính Phong, giơ cờ lên nói:

– Lưu sư thúc! Ðệ tử vâng mệnh cầm cờ lệnh của Ngũ Nhạc minh chủ đến đây, Lưu sư thúc hãy tạm hoãn việc rửa tay gác kiếm.

Lưu Chính Phong khom lưng, đáp:

– Ðã có cờ lệnh minh chủ, dĩ nhiên Lưu mỗ phải tuân hành. Lão ngừng lại một chút rồi hỏi:

– Không hiểu minh chủ ra lệnh này là có dụng ý gì?

Hán tử đáp:

– Ðệ tử chỉ biết vâng lệnh làm việc, thiệt không hiểu kiến ý của minh chủ, xin Lưu sư thúc tha tội cho.

Lưu Chính Phong mỉm cười, hỏi:

– Bất tất khách sáo làm chi. Phải chăng ngươi là Thập Trượng Tùng Sử hiền điệt?

Tuy vẻ mặt lão tươi cười nhưng giọng nói hơi run, hiển nhiên vụ này cực kỳ đột ngột làm lão, là người đã trải nhiều sóng gió, phải chấn động. Hán tử đó chính là đệ tử dưới trướng phái Tung Sơn tên gọi Thiên Trượng Tùng Sử Ðăng Ðạt. Gã thấy Lưu Chính Phong biết rõ danh hiệu của mình thì lấy làm đắc ý, khom lưng đáp:

– Ðệ tử là Sử Ðăng Ðạt, xin bái kiến Lưu sư thúc.

Bốn tên hán tử áo vàng kia cũng đồng thời khom lưng thi lễ. Ðịnh Dật sư thái rất đỗi vui mừng, nghiêng mình đáp lễ nói:

– Sư phụ ngươi đứng ra ngăn trở việc này thật hay biết mấy! Ta nghĩ rằng bọn người học võ như mình phải coi nghĩa khí làm trọng, lấy tiêu dao tự tại làm thú, chui đầu vào nghề quan chức làm cóc gì? Nhưng ta thấy Lưu hiền đệ đã sắp đặt cả rồi, quyết chẳng chịu nghe lời khuyên can của vãi già nên chẳng buồn nói.

Lưu Chính Phong bây giờ vẻ mặt ỉu xìu, nói:

– Ngày trước, khi Ngũ Nhạc kiếm phái ta giao kết đã ước định giúp nhau bất luận trong trường hợp công hay thủ để duy trì chính khí võ lâm. Lúc gặp việc có liên quan đến năm phái, ai nấy phải tuân hành theo hiệu lệnh của minh chủ. Lá cờ lệnh ngũ sắc này do năm phái hợp lại chế ra, khi nhìn thấy cờ lệnh cũng như nhìn thấy minh chủ, đó là chuyện dĩ nhiên. Nhưng tại hạ bữa nay rửa tay gác kiếm là việc riêng của cá nhân, nó không vi phạm quy củ, đạo nghĩa võ lâm, mà cũng không liên quan gì đến Ngũ Nhạc kiếm phái. Các vị sư huynh, sư đệ cùng bằng hữu trên chốn giang hồ đã có mặt tại đây, vậy muôn việc đều căn cứ chữ lý mà làm. Việc riêng của Lưu mỗ không bị ràng buộc bởi cờ lệnh của minh chủ, vậy hiền điệt quay về bẩm lại với tôn sư là Lưu mỗ không thể tuân lệnh, xin minh chủ tha tội cho!

Lão vừa nói vừa quay lại chỗ chậu vàng. Sử Ðăng Ðạt vội lạng người tới chắn trước chậu vàng. Gã giơ cao lá cờ lệnh lên, nói:

– Lưu sư thúc! Sư phụ đệ tử dặn đi dặn lại là phải ráng xin sư thúc hãy tạm hoãn việc rửa tay gác kiếm. Sư phụ đưa cờ lệnh này là để vẹn tình Ngũ Nhạc kiếm phái. Hành động của sư phụ là để vừa duy trì chính khí võ lâm, vừa làm điều hay cho Lưu sư thúc.

Lưu Chính Phong cười ha hả, nói:

– Vụ này Lưu mỗ không sao hiểu được. Nếu Tả sư huynh quả có hảo tâm như vậy thì sao lại không có lời khuyên can từ trước khi khởi sự? Nay chờ Lưu mỗ mở đại yến, mời tân khách đến đông đủ mới đưa cờ lệnh ra ngăn chặn là sao? Hành động này phải chăng là có ý khiến Lưu mỗ phải bẽ mặt với quần hùng thiên hạ?

Sử Ðăng Ðạt nói:

– Gia sư đã căn dặn đệ tử. Người nói Lưu sư thúc là một tay hảo hán lẫy lừng ở phái Hành Sơn, lòng nghĩa hiệp cao ngất trời mây, các đồng đạo võ lâm cực kỳ tôn kính Lưu sư thúc, mà gia sư thiệt cũng khâm bội vô cùng. Người còn dặn đệ tử không được mảy may thất lễ, nhược bằng vi lệnh sẽ nghiêm trị không tha. Ðại danh của Lưu sư thúc đồn đại khắp giang hồ, vậy về điểm này sư thúc bất tất phải lo xa.

Lưu Chính Phong tủm tỉm cười, nói:

– Ðó là minh chủ quá khen mà thôi, Lưu mỗ làm gì có danh vọng đến thế?

Ðịnh Dật sư thái thấy hai người vẫn giằng co không quyết đoán, mụ không nhịn được nữa nói xen vào:

– Lưu hiền đệ, vụ này tạm gác lại phỏng có hại gì? Những người có mặt ở đây bữa nay đều là bạn thì còn ai cười sư đệ nữa? Hoặc giả có một vài kẻ không biết gì, buông lời mỉa mai thì dù Lưu hiền đệ không chấp với họ nhưng bần ni quyết chẳng buông tha.

Mụ nói rồi đảo mắt nhìn mọi người một lượt, ra chiều khiêu khích thử xem có kẻ nào lớn mật, cả gan đắc tội với Ngũ Nhạc kiếm phái nhà mụ không. Lưu Chính Phong nói:

– Ðịnh Dật sư thái đã nói vậy thì tại hạ xin hoãn việc rửa tay gác kiếm đến giờ Ngọ ngày mai sẽ cử hành. Xin các vị hảo hán đừng ai bỏ đi, hãy ở lại tệ xá trò chuyện một ngày, chờ tại hạ hỏi ý kiến các vị hiền điệt phái Tung Sơn.

Sử Ðăng Ðạt nói:

– Ða tạ Lưu sư thúc.

Rồi gã hạ cờ lệnh xuống, khom lưng thi lễ. Giữa lúc ấy bỗng nghe từ hậu đường có tiếng rên la:

– Úi úi! Ngươi làm gì vậy? Ta thích ở chơi với ai là tùy ở nơi ta, bộ ngươi giữ được ta hay sao?

Quần hùng đều lộ vẻ sửng sốt, vì đó là thanh âm của cô bé Khúc Phi Yến, người đã từng cãi lý với Dư Thương Hải. Lại nghe tiếng một gã trai đáp:

– Cô hãy ngồi xuống yên tĩnh một chút. Ta không cho cô lộn xộn, chỉ lát sau là ta tự nhiên buông tha cô.

Khúc Phi Yến nói:

– Thế thì kỳ thiệt! Ðây có phải là nhà ngươi đâu? Ta muốn theo Lưu tỷ tỷ ra vườn sau bắt bướm chơi, tại sao ngươi lại ngăn trở không cho?

Người kia đáp:

– Ðược rồi! Ngươi muốn đi thì đi một mình đi, còn Lưu cô nương xin hãy nán lại đây một lúc.

Khúc Phi Yến nói:

– Lưu tỷ tỷ không biết ngươi, ai bảo ngươi đến đây rắc rối?

Ðột nhiên lại nghe thấy thanh âm một cô gái khác nói:

– Muội muội, chúng ta đi thôi! Mặc hắn.

Gã trai vội nói:

– Lưu cô nương, xin cô nương hãy ngồi lại đây chờ một chút!

Lưu Chính Phong càng nghe càng tức, tự hỏi:

– Tên cuồng đồ lớn mật nào ở đâu tới đây? Gã đã đến nhà mình, lại dám vô lễ với Tinh nhi của ta ở trước mặt mọi người.

Lúc này nhị đệ tử Mễ Ô Nghĩa đã nghe tiếng chạy vào hậu đường thì thấy sư muội Lưu Tinh cùng Khúc Phi Yến đang dắt tay nhau đứng ở ngoài sân. Một thanh niên mặc áo vàng dang hai tay đứng chặn hai cô bé.

Mễ Ô Nghĩa nhìn màu áo của gã kia liền nhận ra ngay hắn là đệ tử phái Tung Sơn thì trong lòng không khỏi căm tức. Gã hắng giọng lớn tiếng:

– Sư huynh đây là môn hạ phái Tung Sơn, sao lại không vào sảnh đường ngồi chơi?

Người kia quay lại. Hắn là một hán tử chừng 27, 28 tuổi, ra chiều bướng bỉnh đáp:

– Ta không vào. Ta vâng mệnh minh chủ đến gác quyến thuộc nhà họ Lưu, không cho một người nào chạy thoát.

Hắn nói mấy câu này thanh âm không lớn lắm nhưng rất mực kiêu căng, quần hùng trong nhà đại sảnh ai cũng biến sắc. Lưu Chính Phong tức quá hỏi Sử Ðăng Ðạt:

– Họ nói gì vậy?

Sử Ðăng Ðạt lên tiếng gọi:

– Vạn sư đệ, sư đệ hãy ra đây! Ăn nói phải lựa lời một chút. Lưu sư thúc đã ưng thuận không rửa tay gác kiếm nữa.

Gã hán tử trong hậu đường liền lên tiếng:

– Dạ thế thì còn gì bằng?

Hắn nói xong từ hậu đường đi ra, nhìn Lưu Chính Phong khẽ cúi mình nói:

– Ðệ tử là Vạn Ðại Bình, môn hạ phái Tung Sơn, xin tham kiến Lưu sư thúc.

Lưu Chính Phong tức giận run lên, lớn tiếng hỏi:

– Phái Tung Sơn cho bao nhiêu đệ tử tới đây? Bảo chúng xuất hiện ra hết đi!

Lão vừa dứt lời thì ở trên nóc nhà, ngoài cổng lớn, góc sảnh đường, trong hậu viện, cả bốn mặt đến mấy chục người đồng thanh hô lên:

– Ðệ tử phái Tung Sơn xin tham kiến Lưu sư thúc.

Mấy chục người cùng lên tiếng một lúc, thanh âm đã vang dội, lại nổi lên một cách đột ngột khiến cho quần hùng đều giật mình kinh hãi. Hơn chục người trên nóc nhà đều mặc áo vàng, còn những người trong đại sảnh thì ăn mặc nhiều kiểu, hiển nhiên họ đã trà trộn vào từ trước để ngấm ngầm giám thị Lưu Chính Phong, vậy mà hơn hai ngàn người không một ai phát giác. Ðịnh Dật sư thái là người đầu tiên không nhịn được, lớn tiếng hỏi:

– Làm như vậy… là có ý gì? Sao lại khinh nhờn quá thế được?

Sử Ðăng Ðạt đáp:

– Xin sư bá tha tội cho. Gia sư truyền lệnh phải cố gắng khuyên can Lưu sư thúc, đừng để người rửa tay gác kiếm. Vì sợ Lưu sư thúc không tuân lệnh nên đành phải đắc tội.

Giữa lúc ấy mười mấy người từ trong hậu đường đi ra. Ðây là Lưu phu nhân cùng hai đứa nhỏ và đệ tử họ, tất cả bảy người, sau mỗi người đều có một tên đệ tử phái Tung Sơn tay cầm đao chủy thủ sau lưng họ. Nguyên những người này lén vào hậu viện rồi liền kiềm chế ngay Lưu phu nhân cùng bọn con em họ Lưu bảy người. Nhưng Vạn Ðại Bình đối với Lưu tiểu thư tỏ ra đặc biệt lịch sự. Hắn chỉ lấy lời lẽ bảo nàng đừng tự chạy tới chạy lui chứ không dùng võ lực uy hiếp. Lưu Chính Phong dõng dạc lên tiếng:

– Thưa các vị bằng hữu! Không phải Lưu mỗ tự hành động, mà nay là Tả sư huynh ức hiếp thế này, nếu Lưu mỗ chịu khuất phục dưới cường lực thì còn mặt mũi nào đứng trên thế gian nữa? Tả sư huynh không cho Lưu mỗ rửa tay gác kiếm, hà hà, nhưng Lưu mỗ thà mất đầu chứ không chịu nhục.

Lão vừa nói vừa tiến lại một bước, hai tay đưa tới chậu vàng. Sử Ðăng Ðạt vội la lên:

– Hãy khoan!

Hắn vừa nói vừa phất cờ lệnh ngăn chặn trước mặt lão. Lưu Chính Phong vung tay trái lên, đâm hai ngón vào mắt đối phương, Sử Ðăng Ðạt đưa hai tay lên ngăn lại. Lưu Chính Phong co tay trái về, đồng thời phóng hai ngón tay bên hữu xỉa vào mặt hắn. Sử Ðăng Ðạt không thể đỡ gạt được, phải lùi lại. Lưu Chính Phong bức bách đối phương lùi lại rồi, hai tay lại đưa tới chậu vàng. Bỗng nghe sau lưng có tiếng gió rít lên, hai người nhảy xổ tới. Lưu Chính Phong không quay đầu lại, đá chân trái ra đánh binh một tiếng, hất một tên đệ tử phái Tung Sơn ra xa. Tay phải lão chụp tới nắm được trước ngực tên còn lại rồi tiện đà liệng về phía Sử Ðăng Ðạt. Chân trái đá, tay phải chụp tựa hồ sau lưng cũng có mắt, động tác cực kỳ chính xác và mau lẹ, thật là một tay cao thủ phi thường. Lưu Chính Phong ra kỳ chiêu đẩy lui được hai tên khiến cho bọn đệ tử phái Tung Sơn phải sửng sốt, trong lúc nhất thời không ai dám tiến lên nữa. Tên đệ tử phái Tung Sơn đừng đằng sau con trai lão liền la lên:

– Lưu sư thúc! Sư thúc mà không dừng tay thì đệ tử phải hạ sát công tử đây.

Lưu Chính Phong quay đầu lại ngó cậu con một cái rồi lạnh lùng nói:

– Anh hùng thiên hạ ở cả đây, ngươi mà dám động đến một sợi lông của con ta thì hết thảy mấy chục tên đệ tử phái Tung Sơn sẽ bị băm nát ra như tương.

Câu này không phải là lời hăm dọa. Nếu tên đệ tử phái Tung Sơn mà kia mà gia hại cậu con lão nhất định sẽ gây công phẫn. Quần hùng cùng ra tay thì mấy chục tên đệ tử phái Tung Sơn khó lòng thoát chết. Lưu Chính Phong nói xong quay lại, đưa tay vào chậu vàng. Lão chưa nhìn thấy ai ngăn trở nữa thì đột nhiên ánh vàng lấp loáng, một mũi ám khí nhỏ xíu xé bầu không khí vọt tới. Lưu Chính Phong lùi lại một bước, bỗng nghe một tiếng “keng” khẽ vang lên, mũi ám khí đã đánh vào chậu vàng, làm chậu nghiêng đi, đổ xuống đất lật úp, nước trong chậu chảy đầy mặt đất. Từ trên nóc nhà một người nhảy xuống. Người này giơ chân phải lên nện xuống chậu, chiếc chậu vàng lập tức bẹp dúm. Người này chừng 40 tuổi, tầm thước vừa phải nhưng thân thể gầy nhom, trên môi để hai túm râu như râu chuột. Y chắp tay nói:

– Lưu sư huynh, tiểu đệ vâng lệnh minh chủ, không để sư huynh rửa tay gác kiếm.

Lưu Chính Phong nhận ra người này là tứ sư đệ của chưởng môn phái Tung Sơn, họ Phí tên Bân, một tay nổi tiếng võ lâm về môn Ðại Tung dương thủ. Lão coi tình hình biết là bữa nay phái Tung Sơn dốc hết lực lượng đến đây để đối phó với mình. Chậu vàng đã bị Phí Bân xéo nát rồi, việc rửa tay gác kiếm không thực hiện được nữa, và cuộc đấu gay go đã bày ra trước mắt. Lưu Chính Phong xoay chuyển ý nghĩ, tự hỏi:

– Phái Tung Sơn của hắn tuy nắm giữ Ngũ Nhạc minh kỳ nhưng hắn uy hiếp mình như thế, chẳng lẽ mấy nghìn vị anh hùng hảo hán có mặt tại đây lại không một ai đứng ra lý luận câu nào sao?

Lão liền chắp tay đáp lễ, nói:

– Phí sư huynh đã giá lâm, tại sao lại không vào uống chén rượu nhạt mà ngồi thu mình trên nóc nhà để phơi nắng cho mệt? Ðinh sư huynh cùng Lục sư huynh chắc cũng tới rồi, xin mời các vị ra cả đây! Nếu đối phó với một mình Lưu mỗ thì chỉ một Phí sư huynh cũng thừa sức, nhưng đối phó với bao nhiêu anh hùng hào kiệt ở đây thì cả phái Tung Sơn e rằng cũng chưa đủ, vậy thì còn kín hở làm chi?

Phí Bân tủm tỉm cười, đáp:

– Sao Lưu sư huynh lại nói ra những lời khiêu khích, ly gián như thế? Dù chỉ một mình Lưu sư huynh với môn Tiểu Lạc Nhạn thức cũng đủ khiến cho phái Tung Sơn không dám gây sự rồi, khi nào còn dám đắc tội với chư vị anh hùng hảo hán có mặt tại đây? Sở dĩ bữa nay tiểu đệ tới là vì thân gia cùng tính mệnh hàng ngàn, hàng vạn đồng đạo trong võ lâm.

Lão vừa nói câu này thì quần hùng trong nhà sảnh đường hết thảy đều ngạc nhiên tự hỏi:

– Việc Lưu Chính Phong có rửa tay gác kiếm hay không sao lại liên quan tới thân gia cùng tính mệnh hàng muôn ngàn đồng đạo võ lâm?

Bỗng nghe Lưu Chính Phong đáp:

– Phí sư huynh nói vậy há chẳng hóa ra tâng bốc tiểu đệ thái quá ư? Lưu mỗ bất quá là một kẻ tầm thường trong phái Hành Sơn, trong Ngũ Nhạc kiếm phái anh tài không biết bao nhiêu mà kể, vậy thêm một Lưu mỗ không phải là nhiều mà bớt Lưu mỗ không phải là ít. Cử động của Lưu mỗ sao lại có liên quan đến thân gia cùng tính mệnh muôn ngàn đồng đạo võ lâm được?

Ðịnh Dật sư thái cũng nói xen vào:

– Phải rồi! Lưu hiền đệ rửa tay gác kiếm để làm chức quan nhỏ bằng hạt đậu, thực tình mà nói bần ni nhận thấy thật là uổng quá. Nhưng mỗi người có một chí hướng, y muốn thăng quan, phát tài thì mặc y, mình chỉ mong y đừng gia hại đến trăm họ, đừng phá hoại nghĩa khí đồng đạo võ lâm, chứ người ngoài không thể ngăn trở y được. Bản lãnh Lưu hiền đệ đã lấy chi làm khủng khiếp mà gia hại số đông đồng đạo võ lâm được?

Phí Bân nói:

– Ðịnh Dật sư thái, sư thái là nhà tu hành đắc đạo nơi cửa Phật, dĩ nhiên không hiểu được chỗ ngoắt ngoéo, quỉ quái của người khác. Vụ đại âm mưu này mà thành công thì chẳng những đồng đạo võ lâm bị hại không biết bao nhiêu, mà kể cả đến nhân dân lương thiện khắp thiên hạ cũng bị nhiễm độc. Xin các vị nghĩ kỹ mà coi. Lưu tam gia đã là bậc anh hùng, tiếng tăm lừng lẫy trên chốn giang hồ, khi nào lại cam tâm hạ mình đi làm một chức quan chó má thối tha? Gia tài Lưu tam gia có đến hàng vạn quan thì y còn mong thăng quan, phát tài làm chi? Trong vụ này còn có nguyên nhân không thể nói ra được.

Quần hùng bụng bảo dạ:

– Thuyết này rất có lý. Mình đã đem lòng ngờ vực từ trước, con người như Lưu Chính Phong mà đi làm một chức võ quan nhỏ bé thì còn trời đất nào nữa?

Lưu Chính Phong không nổi giận, lão tươi cười nói:

– Hay lắm! Hay lắm! Té ra trong vụ này còn có một cuộc đại âm mưu không thể nói với ai được! Phí sư huynh, sư huynh muốn ngậm máu phun người, tiểu đệ thử coi sư huynh có làm được không. Vụ này tiểu đệ không muốn nói vì đó là cái nhục cho môn hộ phái Hành Sơn, nhưng việc đã xảy ra thế này, muốn giữ cũng không được nữa. Xin các vị bằng hữu cứ thẳng thắn phê bình cho. Ðinh sư huynh và Lục sư huynh đâu, mời hai vị xuất hiện đi!

Bỗng nghe trên nóc nhà mé Ðông và mé Tây có tiếng người đáp lại:

– Ðược lắm!

Bóng vàng thấp thoáng, hai người đã đứng trước cửa sảnh đường. Khinh công của họ cũng hệt như khinh công của Phí Bân nhảy xuống vừa rồi. Người đứng ở mé Ðông là một lão trọc, đầu nhẵn bóng không có lấy một sợi tóc. Ðây là nhị sư đệ Ðinh Trọng của chưởng môn phái Tung Sơn. Mé Tây là một người ủ rũ như mắc bệnh lao, lưng gù, mặt bủng, da vàng, trông chẳng khác kẻ nhịn đói bảy ngày chưa được ăn một bữa. Quần hùng nhận ra hắn là một trong những nhân vật quan trọng nhất phái Tung Sơn hiện nay. Hắn ngồi ghế thứ ba, tên là Hoàng Diện Gia Cát Lục Bách. Cả hai người cùng chắp tay nói:

– Xin chào Lưu tam gia cùng các vị anh hùng.

Ðinh Trọng và Lục Bách là hai người lừng lẫy tiếng tăm trong võ lâm, quần hùng đều đứng lên đáp lễ. Họ thấy những tay cao thủ phái Tung Sơn mỗi lúc một nhiều thì trong lòng ngấm ngầm lo ngại cho cục diện bữa nay cực kỳ nghiêm trọng, và Lưu Chính Phong khó lòng tránh khỏi thất bại. Ðịnh Dật sư thái nói:

– Lưu hiền đệ, hiền đệ bất tất phải quan tâm. Việc thiên hạ đi đến chữ lý là cùng, đừng thấy người nhiều thế mạnh mà sờn lòng. Chẳng lẽ bạn hữu các phái Thái Sơn, Hoa Sơn, Hằng Sơn đến đây giương mắt ra mà nhìn, để mặc ai làm gì thì làm hay sao?

Câu nói này của mụ hiển nhiên ngụ ý cho phái Tung Sơn biết có ỷ mạnh khinh người thì phái Hằng Sơn mụ sẽ ra tay can thiệp, mà bọn Thiên Môn đạo nhân, Nhạc Bất Quần cũng quyết không tự thủ bàng quan.

Lưu Chính Phong nhăn nhó cười, nói:

– Vụ này nói ra càng thêm hổ thẹn. Nguyên là việc riêng về nội bộ phái Hành Sơn của tiểu đệ mà khiến cho quý vị bằng hữu phải quan tâm. Lúc này trong lòng Lưu mỗ đã hiểu rõ hết. Ðây chắc là Mạc sư huynh của tiểu đệ đã đưa ra cáo trạng với minh chủ, nói là Lưu mỗ làm nhiều điều sai quấy, cho nên các vị sư huynh phái Tung Sơn đến đây vấn tội. Ðược lắm! Được lắm! Ðể Lưu mỗ đi nhận lỗi với Mạc sư ca là xong.

Phí Bân đưa mục quang nhìn khắp nhà đại sảnh một vòng. Luồng tinh quang của hắn tỏa ra thành một đường sáng chói, hiển nhiên nội công hắn cực kỳ thâm hậu. Hắn nói:

– Việc này có liên quan gì đến Mạc Ðại tiên sinh?

Lưu Chính Phong nhăn nhó cười, đáp:

– Sự bất hòa giữa sư huynh, sư đệ tại hạ là một điều mà mọi người trong võ lâm đều biết, vậy chẳng cần giấu giếm làm chi. Tiểu đệ nhờ phúc ấm của tiền nhân để lại, trong nhà tương đối dư dật hơn, còn Mạc sư ca là người bần hàn. Ðã là đạo bằng hữu thì vấn đề tiền tài là chuyện rất tầm thường, huống chi lại giữa tình sư huynh, sư đệ. Nhưng Mạc sư ca lại tỵ hiềm điều đó, tuyệt không bước chân đến nhà tại hạ. Sư huynh, sư đệ tại hạ có khi đến mấy năm không nói chuyện, không gặp mặt nhau. Trong lòng tại hạ không phục là ở chỗ minh chủ chỉ nghe lời một bên Mạc sư ca mà đã phái các vị sư huynh, sư điệt tới đây để đối phó với tại hạ, đến cả vợ con Lưu mỗ cũng đều thành ra những tên tù tội dưới thềm, như vậy.. không khỏi vì vấn đề nhỏ nhặt mà thành chuyện lớn ư?

Phí Bân quay lại bảo Sử Ðăng Ðạt:

– Giơ cao cờ lệnh lên!

Sử Ðăng Ðạt vâng lời giơ cờ lệnh, đưa về phía bên Phí Bân. Phí Bân nét mặt nghiêm nghị, nói:

– Lưu sư huynh! Công việc bữa nay không có liên quan gì đến Mạc Ðại tiên sinh, sư huynh đừng bắt quàng sang y. Tả minh chủ phái tiểu đệ tới đây để điều tra cho rõ mối liên quan giữa sư huynh và Ðông Phương Bất Bại ở ma giáo, có ngầm ngầm cấu kết gì với nhau, đồng thời có sắp đặt âm mưu để đối phó với Ngũ Nhạc kiếm phái ta cũng như với các chính phái trong võ lâm đồng đạo hay không?

Hắn vừa nói câu này, quần hùng đều biến động thất sắc. Nguyên ma giáo và quần hùng trong bạch đạo hai bên đã kết mối oan cừu hàng mấy trăm năm nay. Những vụ tranh chấp, chiến đấu gần như chưa bao giờ dứt, bên nào cũng có khi thắng, khi bại. Trong hơn hai ngàn người hiện diện trong nhà đại sảnh thì ít ra cũng có tới một nửa đã bị ma giáo làm hại, hoặc cha, anh bị giết, hoặc sư trưởng uổng mạng. Vừa nghe đề cập tới ma giáo, ai nấy đều nghiến răng căm hận. Nguyên nhân chính khiến cho Ngũ Nhạc kiếm phái kết minh với nhau cũng là để đối phó với ma giáo.

Ta nên biết nội, ngoại công ma giáo luyện theo một đường lối riêng biệt, các danh môn phái chính đạo tuy võ công cao cường nhưng vẫn không sao địch lại đối phương. Ma giáo giáo chủ là Ðông Phương Bất Bại nổi tiếng là cao thủ đệ nhất, hàng trăm năm nay chưa có ai bằng. Tên hắn là Bất Bại quả thực cũng không ngoa, vì từ lúc hắn luyện thành tuyệt nghệ thì chưa bị thua lần nào, đúng là một nhân vật phi thường.

Quần hùng nghe Phí Bân chỉ trích Lưu Chính Phong kết cấu với ma giáo dĩ nhiên không khỏi động tâm. Họ chưa biết có phải là sự thực không, nhưng vụ này quả là liên quan đến tính mạng thân gia của mọi người. Tấm lòng thân thiện đối với Lưu Chính Phong từ trước bỗng tiêu tan hết. Lưu Chính Phong nói:

– Suốt đời tại hạ chưa từng gặp qua Ðông Phương Bất Bại, giáo chủ ma giáo một lần nào, vậy thì những chuyện cấu kết, âm mưu từ đâu mà ra?

Phí Bân nghiêng đầu ngó tam sư huynh Lục Bách để chờ y trả lời. Lục Bách chậm rãi, sẽ sàng nói:

– Lưu sư huynh, tiểu đệ e rằng vụ này không phải hoàn toàn giả trá. Ở ma giáo có một vị hộ pháp trưởng lão tên gọi tên gọi Khúc Dương, chẳng hiểu Lưu sư huynh có biết lão không?

Lưu Chính Phong vốn là người rất bình tĩnh, nhưng lão vừa nghe đến hai chữ Khúc Dương, sắc mặt lập tức biến đổi. Lão mím môi không trả lời. Lão trọc đầu Ðinh Trọng từ lúc vào nhà đại sảnh đến giờ chưa từng mở miệng, bây giờ bỗng lớn tiếng hỏi:

– Lưu sư huynh có quen biết Khúc Dương không?

Thanh âm của hắn rất vang dội, làm cho mọi người phải ù tai. Hắn đứng yên một chỗ không nhúc nhích, thế mà trong nháy mắt mọi người tưởng chừng như lão đột nhiên cao lên mấy thước và uy mãnh phi thường. Lưu Chính Phong vẫn chưa trả lời. Mấy ngàn con mắt ngó chằm chặp vào mặt lão. Mọi người cho rằng lúc này Lưu Chính Phong có trả lời hay không cũng vậy thôi, lão ngậm miệng tức là mặc nhiên thừa nhận rồi. Hồi lâu Lưu Chính Phong mới gật đầu, đáp:

– Ðúng rồi! Tại hạ chẳng những quen biết Khúc đại ca, y còn là người bạn tốt nhất, người tri kỷ duy nhất của tại hạ.

Trong nhà đại sảnh lập tức nhộn nhạo cả lên. Quần hùng bàn tán xôn xao. Mấy câu trả lời của Lưu Chính Phong đã ra ngoài sự tiên liệu của mọi người. Ai cũng đoán: “Nếu lão không chối cãi thì cũng chỉ nên bảo là mới gặp Khúc Dương một lần, ngờ đâu lão lại nói huỵch toẹt ra là đã thâm giao với một người trưởng lão của ma giáo”. Nét mặt thoáng qua một nụ cười, Phí Bân nói:

– Lưu sư huynh thừa nhận như vậy là hay lắm! Ðã là bậc đại trượng phu thì mình làm mình chịu. Lưu Chính Phong! Tả minh chủ đã vạch ra hai đường, tùy ông bạn chọn lấy một.

Lưu Chính Phong tựa hồ như không nghe thấy câu nói của Phí Bân. Mặt lão vẫn điềm nhiên, lão từ từ ngồi xuống, cầm hồ rượu rót một chung đặt lên môi mà nhấp từ từ. Quần hùng thấy Lưu Chính Phong vẫn thẳng thắn, không tỏ ra xúc động chút nào thì đủ biết định lực của lão cực kỳ cao thâm. Giữa lúc khẩn trương lão vẫn bình tĩnh như không, về đởm lược cũng như về võ công đều vào bậc thượng thặng mới đạt tới trình độ này được, hai bề mà khuyết một nhất định không xong. Trong lòng mọi người ngấm ngầm bội phục. Phí Bân dõng dạc nói:

– Tả minh chủ đã bảo: “Lưu Chính Phong là một nhân tài rất hiếm thấy trong phái Hành Sơn, chỉ vì nhất thời lầm lạc đi vào đường rẽ, kết giao với địch. Nếu y tự hối hận thì chúng ta đã là người nghĩa hiệp, há chẳng để y trở lại đường chính?” Nếu Lưu sư huynh chọn đường này thì hạn trong vòng một tháng, sư huynh phải giết trưởng lão Khúc Dương, đem đầu về nạp, thế thì mọi việc lầm lỗi trước đây đều bỏ đi, không nói tới nữa, chúng ta vẫn giữ tình bằng hữu, nghĩa anh em.

Quần hùng nghĩ bụng:

– Hai phe chính tà chẳng thể đứng chung với nhau được. Bọn bàng môn tả đạo bên ma giáo cùng những nhân vật nghĩa hiệp hễ thấy mặt nhau là chiến đấu đến kẻ sống người chết, Tả minh chủ đòi Lưu Chính Phong phải giết Khúc Dương để biểu lộ lòng ngay thẳng thì cũng là một điều yêu cầu đúng mức.

Lưu Chính Phong mặt thoáng qua một nụ cười thê lương, đáp:

– Khúc đại ca cùng tại hạ mới gặp mặt lần đầu đã như tình cố cựu, ngỏ hết tâm sự, cùng nhau giao kết. Y cùng tại hạ hội diện đến mười mấy lần rồi, có khi nằm nói chuyện suốt đêm, ngẫu nhiên đề cập đến chính kiến bất đồng về môn hộ, y vuốt râu thở dài, nhận ra cuộc tranh đấu hai bên đều là vô vị. Tại hạ cùng Khúc đại ca kết giao với nhau chỉ ở chỗ nghiên cứu âm nhạc. Y là tay cao thủ về thất huyền cầm, còn tại hạ say mê thổi tiêu. Khi hai người gặp nhau, phần lớn thời gian chỉ họa đàn thổi tiêu, chưa từng bàn đến võ công bao giờ.

Lão nói tới đây, tủm tỉm cười nói tiếp:

– Nếu các vị không tin thì Lưu Chính Phong này cả quyết, hiện nay trên đời không ai gảy đàn bằng được Khúc đại ca, còn về thổi tiêu, tại hạ cũng quyết không chịu đứng xuống hàng thứ hai. Khúc đại ca tuy là người trong ma giáo nhưng tại hạ nghe tiếng đàn biết y tính tình cao khiết, đáng là người bạn thanh phong minh nguyệt, Lưu Chính Phong này không những đem lòng bội phục mà còn ngưỡng mộ nữa. Lưu mỗ tuy là kẻ thất phu quê mùa nhưng nhất định không chịu gia hại người quân tử.

Quần hùng càng nghe càng lấy làm kỳ. Không ai ngờ Lưu Chính Phong lại kết giao với Khúc Dương ở chỗ tiếng đàn, điệu sáo, trong lòng ai cũng không tin. Song nghe y nói ra vẻ rất thành thực, tuyệt không có chút gì giả trá. Họ nghĩ: “Trên chốn giang hồ đã nhiều kẻ sĩ đặc biệt thì việc Lưu Chính Phong say mê âm nhạc vào loại thanh sắc mê người cũng chẳng có chi là lạ”. Những người biết rõ gốc ngọn phái Hành Sơn bụng bảo dạ:

– Những tay cao thủ truyền đời của phái Hành Sơn đều thích âm nhạc. Hiện nay chưởng môn phái này là Mạc Ðại tiên sinh ngoại hiệu là Tiêu Tương Dạ Vũ cũng thích hồ cầm nên mới có câu “cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm âm”. Vậy Lưu Chính Phong từ chỗ ham mê thổi tiêu mà đi đến chỗ kết giao với Khúc Dương là một chuyện rất có thể đúng.

Phí Bân nói:

– Chuyện Lưu sư huynh cùng Khúc ma đầu do âm nhạc mà kết thân, Tả minh chủ biết rõ lắm. Người còn bảo: “Bọn ma giáo trong lòng hiểm độc khôn lường. Chúng biết rằng sau khi Ngũ Nhạc kiếm phái kết minh với nhau thế lực sẽ lớn vô cùng, bọn chúng khó lòng chống chọi được, nên mới tìm thiên phương bách kế để phá hoại nội bộ, gây tình ly gián. Ðối với bọn đệ tử thanh niên, chúng dùng mỹ sắc để mà quyến rũ. Lưu sư huynh vốn là người nghiêm cẩn giữ mình, chúng không giở trò đó được, liền phái Khúc Dương, là tay giỏi đàn, đến lung lạc. Lưu sư huynh, sư huynh mau mau tỉnh ngộ! Bọn ma giáo đã giết người bên ta không phải là ít mà sao sư huynh còn để chúng dùng cách quỷ quái làm cho mê hoặc?

Ðịnh Dật sư thái nói:

– Phải rồi, Phí sư đệ nói đúng đó! Bọn ma giáo thật là đáng sợ, chẳng những võ công chúng thâm độc mà còn nhiều ngụy kế đa đoan, khiến người ta không biết đâu mà đề phòng. Lưu sư đệ, sư đệ là người chính nhân quân tử, bị mắc lừa kẻ tiểu nhân ty tiện rồi. Việc này không sao, chúng ta nhất tề ra tay chém chết tên Khúc Dương ma đầu đó là xong chuyện.

Thiên Môn đạo nhân nói:

– Lưu sư đệ, người quân tử làm điều lầm lỗi như mặt trời, mặt trăng bị mây bao phủ. Biết lỗi lầm mà sửa đổi là điều rất hay. Sư đệ nên vung kiếm chặt đầu tên họ Khúc kia thì những người nghĩa hiệp đều giơ ngón tay lên ca ngợi: “Lưu Chính Phong của phái Hành Sơn quả là một tay hảo hán, biết phân biệt thiện ác”, chúng ta là bạn của sư đệ cũng được thơm lây.

Lưu Chính Phong không trả lời. Lão đưa mắt ngó vào mặt Nhạc Bất Quần, hỏi:

– Nhạc đại ca, đại ca là bậc quân tử, hiểu rõ điều phải trái, những cao nhân võ lâm ở đây bức bách tiểu đệ bán cả bằng hữu thì đại ca tính sao?

Nhạc Bất Quần đáp:

– Lưu hiền đệ, nếu quả là bằng hữu thì mọi người võ lâm chúng ta phải chung lưng góp sức, dù chết cũng chẳng chau mày. Nhưng lão họ Khúc trong ma giáo hiển nhiên bề ngoài nói cười nhưng bề trong nham hiểm, giết người không dao. Hắn tìm cách giao hảo với sư đệ thì là một hành động rất thâm độc nguy hiểm. Nếu hạng người đó mà kể là bạn, há chẳng ô nhục cho hai chữ “bằng hữu” ư? Cổ nhân vì đại nghĩa giết cả người thân thì kể chi đến một tên đại ma đầu, sao còn coi là bằng hữu được?

Quần hùng nghe Nhạc Bất Quần lý luận xác đáng đều cất tiếng hoan hô và nói:

– Lời nói của Nhạc tiên sinh thật là minh bạch! Ðối với bằng hữu mới dùng lời nghĩa khí, còn đối với kẻ địch thì phải giết cho hết sạch, còn nói chi đến chuyện nghĩa khí nữa.

Lưu Chính Phong buông một tiếng thở dài. Lão chờ cho mọi người yên tĩnh lại mới từ từ lên tiếng:

– Lúc tại hạ bắt đầu giao kết với Khúc đại ca đã tiên liệu đến chuyện ngày nay rồi. Xét tình thế gần đây, Ngũ Nhạc kiếm phái ta sẽ xảy một trường tranh đấu khốc liệt với ma giáo, một bên là sư huynh sư đệ đồng minh, một bên là bạn tri giao. Lưu mỗ chẳng biết đứng về bên nào, vì thế nên phải nghĩ ra hạ sách rửa tay gác kiếm để báo cáo cùng đồng đạo thiên hạ rằng Lưu mỗ từ đây phải rút lui khỏi võ lâm, không nghe đến chuyện ân oán, giết chóc trên chốn giang hồ, đặt mình ra ngoài vòng phiền lụy, đi làm một chức võ quan nhỏ bé. Ngờ đâu Tả minh chủ thần thông quảng đại, nước cờ của Lưu mỗ không qua được mắt y.

Quần hùng nghe nói mới tỉnh ngộ, bụng bảo dạ:

– Té ra vụ Lưu Chính Phong rửa tay gác kiếm là có thâm ý này. Trước mình vẫn không hiểu vì lẽ gì một tay cao thủ phái Hành Sơn lại can tâm chịu đi làm chức quan cỏ rác đó.

Lưu Chính Phong giải thích xong, mọi người đều cho lão là người có tiên kiến sáng suốt. Phí Bân, Ðinh Trọng, Lục Bách ba người đưa mắt nhìn nhau, ra chiều đắc ý, nghĩ rằng:

– Giả tỷ Tả sư ca mà không khám phá ra được gian kế của hắn, ngăn cản kịp thời thì hắn đã rút lui êm thấm.

Lưu Chính Phong lại nói:

– Ma giáo cùng đường lối nghĩa hiệp của chúng ta đã thành cừu địch, tranh đấu không ngớt, điều phải, lẽ trái trong lúc nhất thời nói sao cho xiết? Lưu mỗ chỉ mong thoát lui khỏi những cuộc ác đấu máu tanh, từ nay cáo lão, hưởng thú lâm tuyền, thổi sáo, dạy con, làm một người lương dân an phận thủ thường. Lưu mỗ tự nghĩ rằng mối tâm nguyện này chẳng có gì vi phạm đến quy củ bản môn cùng minh ước Ngũ Nhạc kiếm phái.

Phí Bân cười nhạt nói:

– Nếu ai cũng như Lưu sư ca gặp lúc nguy nan, lâm trận bỏ chạy, há chẳng để bọn ma giáo ngang dọc giang hồ, reo rắc tội ác khắp nhân gian ư? Lưu sư huynh muốn đặt mình ra ngoài vòng phiền lụy nhưng lão ma đầu họ Khúc kia sao không chịu trí thân ngoại sự?

Lưu Chính Phong mỉm cười đáp:

– Khúc đại ca vừa nói cho tại hạ hay là y đã lập lời trọng thệ trước tổ sư ma giáo, từ đây trở đi y nhất định không can thiệp vào bất luận một cuộc tranh đấu nào giữa ma giáo và bạch đạo. Người đã không xúc phạm ta thì ta cũng chẳng tội gì mà xúc phạm người.

Phí Bân cười ha hả nói:

– Giả tỷ bọn bạch đạo chúng ta xúc phạm hắn thì sao?

Lưu Chính Phong đáp:

– Khúc đại ca đã bảo y hết sức nhường nhịn, quyết không cùng người tranh thắng, và sẽ gắng sức điều giải mối hiềm khích, hiểu lầm giữa hai bên. Khúc đại ca mới hôm qua đây còn nói với tại hạ rằng Lệnh Hồ Xung, đệ tử phái Hoa Sơn, bị thương nguy đến tính mạng, chính y đã ra tay cứu sống.

Mọi người nghe Lưu Chính Phong nói tới câu này đều vô cùng xúc động, nhất là bọn người phái Hoa Sơn, phái Hằng Sơn và phái Thanh Thành. Họ kề đầu ghé tai thì thầm bàn tán. Nhạc Linh San ở phái Hoa Sơn không nhịn được cất tiếng hỏi:

– Lưu sư thúc, đại sư ca của đệ tử hiện ở đâu? Có thật lão họ Khúc… Khúc tiền bối đã cứu trị cho y không?

Lưu Chính Phong đáp:

– Khúc đại ca nói vậy chắc không phải điều trá ngụy. Mai đây ngươi gặp Lệnh Hồ hiền điệt cứ hỏi y sẽ biết.

Phí Bân cười nhạt nói:

– Cái đó có chi là lạ? Bọn ma giáo đã tìm kế ly gián thì còn thủ đoạn nào chúng không lợi dụng? Chúng tìm thiên phương bách kế để lung lạc đệ tử phái Hoa Sơn, ngay Lệnh Hồ Xung có khi vì thế mà đem lòng cảm kích, muốn đền đáp cái ơn cứu mạng cũng chưa biết chừng. Như vậy trong Ngũ Nhạc kiếm phái ta lại thêm một tên loạn đồ.

Lưu Chính Phong giương cặp lông mày lên, ngang nhiên hỏi:

– Phí sư huynh! Sư huynh bảo lại thêm một tên loạn đồ, chữ “lại” đó là có ý gì?

Phí Bân đáp:

– Là kẻ nào có tật giật mình. Lưu sư huynh đã biết rồi, hà tất tiểu đệ phải nói rõ.

Lưu Chính Phong nói:

– Hừ! Thế thì Phí sư huynh trỏ thẳng Lưu mỗ mà nói. Thiết tưởng vụ Lưu mỗ kết bạn là chuyện riêng, người ngoài chẳng thể can thiệp vào được. Lưu Chính Phong này không lừa thầy, diệt tổ, gây họa cho môn phái, thì hai chữ “loạn đồ” xin niêm phong lại để kính hoàn cho sư huynh.

Lưu Chính Phong vốn là người ôn tồn, lễ độ như một tài chủ quê mùa. Lão vừa giống người giàu, lại ra chiều có sĩ khí, thế nhưng lúc này đột nhiên hiển hiện hào khí bừng bừng, khác hẳn với lúc bình thường. Quần hùng thấy Lưu Chính Phong ở vào tình thế cực kỳ bất lợi mà lão đưa ra luận điệu đối chọi sắc bén với Phí Bân, chẳng chịu nhường nhịn chút nào thì không khỏi sinh lòng bội phục lão là người có đởm lược. Phí Bân nói:

– Thế là Lưu sư huynh không chịu theo đường lối thứ nhất đi giết tên đại ma đầu Khúc Dương phải không?

Lưu Chính Phong đáp:

– Nếu Tả minh chủ đã có hiệu lệnh thì Phí sư huynh cứ động thủ hạ sát toàn gia Lưu mỗ đi là xong.

Phí Bân hỏi:

– Lưu sư huynh đừng ỷ thế mình mạnh mà chẳng sợ hãi ai. Sư huynh tưởng trong nhà đã có nhiều anh hùng hảo hán đến làm tân khách thì Ngũ Nhạc kiếm phái ta phải sợ sệt, không dám thanh lý nội bộ chăng?

Dứt lời hắn vẫy tay gọi Sử Ðăng Ðạt:

– Lại đây!

Sử Ðăng Ðạt “dạ” một tiếng rồi tiến lên ba bước. Phí Bân đón lấy cây ngũ sắc lệnh kỳ trong tay gã, giơ cao lên tuyên bố:

– Lưu Chính Phong hãy nghe đây! Tả minh chủ có lệnh, truyền trong vòng một tháng mà ngươi không chịu giết Khúc Dương thì lập tức Ngũ Nhạc kiếm phái phải thanh toán nội bộ để khỏi có mối lo về sau. Ðã nhổ cỏ phải nhổ tận gốc, quyết chẳng dung tình. Ngươi hãy nghĩ kỹ đi.

Lưu Chính Phong nở một nụ cười thê thảm, nói:

– Lưu mỗ kết bạn cốt ở chỗ lấy gan mật đối xử với nhau, khi nào lại giết bạn để giữ thân mình. Tả minh chủ đã không chịu lượng thứ cho thì Lưu Chính Phong này thế cô lực bạc, chống chọi với Tả minh chủ thế nào được. Phái Tung Sơn của sư huynh đã bố trí đâu vào đấy rồi, có khi đã mua cả quan tài cho Lưu mỗ rồi ý chứ. Phí sư huynh muốn động thủ thì động thủ ngay đi, còn đợi đến bao giờ?

Phí Bân phất cờ, dõng dạc ra lệnh:

– Thiên Môn sư huynh phái Thái Sơn, Nhạc sư huynh phái Hoa Sơn, Ðịnh Dật sư thái phái Hằng Sơn, các vị phái Hành Sơn, Tả minh chủ đã dặn: “Trước nay hai phe chính tà thù sâu tựa bể, chẳng đội trời chung, nay Lưu Chính Phong phái Hành Sơn cấu kết với giặc, giúp kẻ cừu thù, đã là Ngũ Nhạc đồng môn thì đều phải ra tay giết đi. Ai tuân lệnh, đứng sang mé tả!

Thiên Môn đạo nhân đứng dậy trước tiên rảo bước đi sang mé tả. Lão nhìn thẳng chứ không ngó Lưu Chính Phong. Nguyên sư phụ Thiên Môn đạo nhân mất mạng về tay một vị nữ trưởng lão ma giáo nên lão căm hận phái này thấu xương. Lão đi sang mé tả, bọn đệ tử dưới trướng cũng đi theo liền. Kế đến Nhạc Bất Quần cũng đứng lên nói:

– Lưu hiền đệ, hiền đệ chỉ gật đầu một cái là Nhạc Bất Quần sẽ phụ trách việc thu xếp Khúc Dương, vậy được chăng? Hiền đệ bảo bậc đại trượng phu không thể tội lỗi với bạn, chẳng lẽ trong thiên hạ chỉ có mình Khúc Dương là bạn thôi hay sao, Ngũ Nhạc kiếm phái ta đây không phải là bạn của hiền đệ ư? Mấy ngàn vị anh hùng hảo hán, đồng đạo võ lâm nghe tin Lưu hiền đệ rửa tay gác kiếm đã chẳng quản đường xá xa xôi ngàn dặm tới đây thì tấm lòng thành của các vị đã tỏ rõ mối tình giao hảo. Dù Khúc Dương có ngón đàn hay, chẳng lẽ hiền đệ vì hắn mà để toàn gia bị mất mạng ư? Các sư hữu Ngũ Nhạc kiếm phái cùng trăm ngàn vị đồng đạo võ lâm góp lại không bằng một mình Khúc Dương hay sao?

Lưu Chính Phong từ từ lắc đầu, đáp:

– Nhạc sư huynh! Sư huynh đã đọc sách, hiển nhiên hiểu rõ, bậc đại trượng phu có những việc không thể làm được. Mấy lời vàng ngọc mà sư huynh khuyên can Lưu mỗ rất lấy làm cảm kích. Người ta bức bách Lưu mỗ sát hại Khúc Dương, việc đó Lưu mỗ nhất định không thể làm được. Việc này cũng giống như người ta bức bách Lưu mỗ gia hại Nhạc huynh hoặc bất cứ một vị bằng hữu nào ở đây, Lưu mỗ dù có toàn gia gặp nạn cũng quyết không dám gật đầu. Khúc đại ca thâm giao với tiểu đệ, đó là một điều chắc chắn, cũng như Nhạc huynh là một vị hảo hữu của Lưu mỗ. Nếu Khúc đại ca đưa ra đề nghị ám hại một vị bằng hữu nào trong Ngũ Nhạc kiếm phái ta thì Lưu mỗ sẽ khinh bỉ y và tuyệt giao với y ngay.

Lưu Chính Phong nói mấy câu này với một giọng chí thành, quần hùng không khỏi ngẩn ngơ. Ta nên biết người võ lâm lấy nghĩa khí làm trọng. Lưu Chính Phong cố bảo toàn mối giao tình với Khúc Dương khiến cho các hán tử giang hồ đều ngấm ngầm thán phục. Nhạc Bất Quần lắc đầu nói:

– Lưu hiền đệ, hiền đệ nói thế là sai! Lưu hiền đệ giữ vẹn nghĩa khí bằng hữu khiến cho người ta bội phục thiệt, nhưng hiền đệ bất luận chính tà, không chia phải trái. Bọn ma giáo làm ác đã nhiều, tàn hại nhiều chính nhân quân tử trên chốn giang hồ cùng lương dân vô tội, thế mà Lưu hiền đệ chỉ vì tiếng đàn, tiếng sáo hợp ý trong lúc nhất thời mà nỡ đem cả tính mạng toàn gia giao cho y thì là hiểu lầm hai chữ “nghĩa khí” rồi.

Lưu Chính Phong cười nhạt nói:

– Nhạc đại ca, đại ca không thích âm nhạc nên không hiểu ý tứ của tiểu đệ. Về ngôn ngữ, văn tự còn có thể trá ngụy, nhưng tiếng đàn, tiếng tiêu là tiếng nói tự cõi lòng, chẳng ai có thể giả mạo được. Tiểu đệ xin lấy tính mạng toàn gia ra mà bảo đảm, Khúc đại ca là người trong ma giáo nhưng tuyệt không có chút tâm địa tà ác của môn phái y.

Nhạc Bất Quần buông tiếng thở dài, từ từ đi đến bên Thiên Môn đạo nhân. Bọn Lao Ðức Nặc, Nhạc Linh San, Lục Ðại Hữu đều theo lão ngay. Ðịnh Dật sư thái đưa mắt nhìn Lưu Chính Phong, hỏi:

– Từ nay phải kêu hiền đệ bằng Lưu hiền đệ hay gọi thẳng tên Lưu Chính Phong đây?

Lưu Chính Phong nở một nụ cười tê tái, đáp:

– Lưu Chính Phong này sẽ mất mạng trong khoảnh khắc, từ đây sư thái không còn phải kêu đến Lưu mỗ nữa.

Ðịnh Dật sư thái chắp hai tay để trước ngực, thở dài, cất tiếng niệm:

– A Di Ðà Phật.

Rồi mụ từ từ đi tới bên Nhạc Bất Quần, miệng nói:

– Ma quỷ ám chướng, thật là tội nghiệt!

Bọn đệ tử dưới trướng theo mụ qua một bên. Phí Bân dõng dạc nói:

– Ðây là việc của một mình Lưu Chính Phong, không liên can gì đến các đệ tử khác phái Hành Sơn, vậy đệ tử phái Hành Sơn không phụ trợ nghịch đồ thì phải mau mau qua mé bên tả.

Trong nhà đại sảnh yên lặng như tờ. Hồi lâu, một hán tử thanh niên nghẹn ngào lên tiếng:

– Lưu sư bá, bọn đệ tử cam đành đắc tội với sư bá.

Rồi hơn 30 tên đệ tử phái Hành Sơn sang đứng bên quần ni phái Hằng Sơn. Bọn này toàn là những hạng sư điệt Lưu Chính Phong, nhưng còn những nhân vật trực thuộc lão thì không ai bỏ đi. Phí Bân lại giục:

– Những đệ tử thân truyền của Lưu môn cũng qua mé tả hết đi.

Hướng Ðại Niên dõng dạc nói:

– Bọn đệ tử chịu ân nặng của ân sư, nay ân sư gặp nạn, vậy nguyện cùng sống chết với ân sư.

Lưu Chính Phong nước mắt chạy quanh, nói:

– Hay lắm! Hay lắm! Ðại Niên, ngươi nói vậy cũng khiến cho sư phụ đây được hả lòng. Nhưng các ngươi qua bên đó đi, việc sư phụ kết bạn không liên can gì đến các ngươi cả.

Mê Ô Nghĩa rút thanh trường kiếm đánh “soạt” một cái, nói:

– Một ngành Lưu môn không thể địch lại Ngũ Nhạc kiếm phái, bữa nay chỉ còn cái chết mà thôi. Ai định gia hại ân sư thì trước hết hãy giết Mê Ô Nghĩa này đã.

Gã nói xong lạng người ra đứng chắn trước mặt Lưu Chính Phong. Phí Bân cười gằn, nói:

– Ánh lửa đom đóm mà cũng muốn lập lòe ư?

Hắn giơ tay trái lên, “véo” một tiếng, một tia sáng bạc vọt ra nhanh như tên. Lưu Chính Phong giật mình kinh hãi, đẩy Mê Ô Nghĩa ra mé tả, tia sáng bạc nhằm bắn ngay tới trước mặt lão. Hướng Ðại Niên hốt hoảng nhảy ra đỡ đòn cho sư phụ, bỗng gã la lên một tiếng, mũi ngân châm bắn trúng vào trái tim gã. Lưu Chính Phong vươn tay trái ra nắm lấy thi thể gã. Lão sờ mũi thấy đã tắt hơi liền quay sang bảo Ðinh Trọng:

– Ðinh lão nhị! Phái Tung Sơn nhà lão đã hạ thủ trước, giết chết đệ tử của ta rồi!

Ðinh Trọng nói:

– Ðúng đó! Bọn ta động thủ trước thì đã sao?

Lưu Chính Phong nhấc bổng thi thể Hướng Ðại Niên lên, vận nội lực vào để liệng về phía Ðinh Trọng. Ðinh Trọng đã biết nội công của phái Hành Sơn có chỗ độc đáo, Lưu Chính Phong lại là tay cao thủ hạng nhất phái Hành Sơn thì thế liệng ra không phải tầm thường. Hắn liền ngấm ngầm đề tụ nội lực, chuẩn bị đón lấy xác chết để hất ngược lại. Ngờ đâu Lưu Chính Phong nhấc xác chết lên nhắm liệng về phía trước nhưng đột nhiên người lão chếch đi, giơ hai tay lên liệng xác Hướng Ðại Niên vào trước ngực Phí Bân. Cử động này cực kỳ mau lẹ mà Phí Bân đang lúc bất ngờ, hắn vội giơ thẳng song chưởng lên vận kình lực vào để ngăn chặn. Giữa lúc ấy hắn thấy hai cánh tay tê chồn, thì ra đã bị Lưu Chính Phong điểm huyệt. Lưu Chính Phong ra một chiêu thành công liền vươn tay trái ra cướp lấy cây cờ lệnh trong tay Phí Bân, tay phải rút kiếm đặt vào yết hầu hắn, bỏ mặc cho xác Hướng Ðại Niên rớt xuống đất. Ðộng tác của Lưu Chính Phong biến hóa mau lẹ đến nỗi Phí Bân bị kiềm chế, cờ lệnh bị cướp rồi mọi người mới nhìn thấy và hiểu mưu thâm của lão. Lưu Chính Phong thi triển công phu này là một tuyệt chiêu của phái Hành Sơn kêu bằng “Bách Biến Thiên Ảo Hành Sơn Vân Vụ Thập Tam Thức”, mọi người nghe thấy tên này từ lâu nhưng đây là lần đầu được mở rộng tầm mắt. Bọn Thiên Môn đạo nhân, Nhạc Bất Quần tuy đã nghe tiếng lớn của “Bách Biến Thiên Ảo Hành Sơn Vân Vụ Thập Tam Thức” từ lâu, có khi đã thấy đệ tử phái này sử dụng lúc lâm địch, nhưng đến độ xuất quỷ nhập thần như Lưu Chính Phong thì chưa được thấy bao giờ, nên ai cũng thán phục, nhất là Phí Bân, một tay cao thủ phái Tung Sơn, bản lãnh chẳng kém gì Lưu Chính Phong, nay hắn thấy Lưu Chính Phong ra đòn mới biết là ghê gớm.

Công phu “Bách Biến Thiên Ảo Hành Sơn Vân Vụ Thập Tam Thức” là do một vị cao thủ đời trước phái Hành Sơn sáng chế ra. Vị cao thủ đó thường đi phô diễn hí kịch khắp nơi trên chốn giang hồ làm kế sinh nhai. Hí pháp này thanh đông kích tây, như hư như thực, biến ảo khôn lường để che tai mắt mọi người. Lúc lão tuổi già võ công càng cao, bí pháp biến ảo càng tăng tiến, lão dùng công phu nội gia để thi triển biến pháp khiến ai trông thấy cũng phải khen là kỳ tuyệt. Về sau lão đem bí pháp biến ảo đưa vào bản lãnh võ công, đi tới chỗ vô cùng xảo diệu. Tuy công phu này biến hóa tuy quái lạ nhưng lúc lâm địch cũng không bổ ích gì mấy, vì những tay cao thủ ra chiêu thường đề phòng nghiêm ngặt, môn hộ toàn thân giữ không sơ hở, mà chiêu này chỉ cốt lòe mắt mọi người nên sử dụng khó thành công. Vì thế khi phái Hành Sơn truyền thụ võ công cho môn đồ vẫn coi thường công phu này. Nếu đồ đệ là người nông nổi, nhẹ dạ thì không được truyền thụ để tránh khỏi cái nạn chuyên về hư ảo mà khiếm khuyết công phu thực lực.

Lưu Chính Phong là con người thâm trầm ít nói. Lão học được công phu này ở nơi sư phụ mà thường ngày chưa từng dùng tới, nay gặp lúc cấp bách mới sử dụng, ai ngờ một chiêu đã thành công, kiềm chế ngay được một tên cao thủ nổi tiếng phái Tung Sơn là Phí Bân. Lưu Chính Phong tay phải giơ cây lệnh cờ của Ngũ Nhạc kiếm phái lên, tay trái gí trường kiếm vào yết hầu Phí Bân, dằn giọng nói:

– Ðinh sư huynh, Lục sư huynh! Lưu mỗ cả gan cướp cây Ngũ Nhạc lệnh kỳ chỉ là để năn nỉ với hai vị.

Ðinh Trọng cùng Lục Bách đưa mắt nhìn nhau nghĩ thầm:

– Phí sư đệ đã bị lão ám toán, bây giờ mình đành hãy nghe xem lão nói gì.

Ðinh Trọng nghĩ vậy liền hỏi:

– Năn nỉ điều chi?

Lưu Chính Phong đáp:

– Lưu mỗ năn nỉ hai vị chuyển bẩm lên Tả minh chủ, chuẩn cho Lưu mỗ được toàn gia quy ẩn, từ đây không can dự đến bất cứ việc gì trong võ lâm. Lưu mỗ cùng Khúc đại ca cũng bắt đầu từ hôm nay không gặp nhau nữa. Lưu mỗ cùng gia nhân, đệ tử còn sống ngày nào sẽ không bước chân vào đất Trung Nguyên nữa.

Ðinh Trọng ngần ngừ một chút rồi nói:

– Ta cùng Lục sư đệ không có quyền giải quyết việc này mà phải chờ chỉ thị của Tả sư ca định đoạt.

Lưu Chính Phong nói:

– Hai vị chưởng môn phái Thái Sơn và Hoa Sơn đã có ở đây, Ðịnh Dật sư thái phái Hằng Sơn có thể đại diện cho chưởng môn là sư tỷ của y, ngoài ra các anh hùng hảo hán cũng đều chứng kiến, tưởng là đủ lắm rồi.

Lão đảo mắt nhìn vào mặt mọi người rồi trầm giọng nói tiếp:

– Lưu mỗ năn nỉ cùng các vị bằng hữu cho Lưu mỗ được vẹn toàn nghĩa bạn bè và giữ cho gia nhân cùng đệ tử được chu toàn.

Ðịnh Dật sư thái là người bề ngoài cứng rắn nhưng bên trong lại rất ôn hòa. Mụ nóng tính mà lòng dạ hiền từ, lên tiếng trước:

– Thế là hay lắm, chúng ta không bị tổn thương đến hòa khí đồng đạo. Ðinh sư huynh, Lục sư huynh, chúng ta nên ưng thuận lời yêu cầu của Lưu hiền đệ đi! Y đã thôi kết giao với người ma giáo, lại tránh xa Trung Nguyên thì khác gì trên cõi đời này không còn có y nữa, hà tất phải giết người cho thêm tội nghiệt?

Thiên Môn đạo nhân cũng gật đầu nói:

– Thế là phải! Nhạc hiền đệ, hiền đệ tính sao? Lưu hiền đệ lời nói coi trọng bằng non, y đã hứa như vậy thì chúng ta có thể tin được lắm. Nào Lưu hiền đệ, hãy buông Phí hiền đệ ra rồi chúng ta uống chung rượu giải hòa, sáng sớm mai hiền đệ đưa gia quyến cùng đệ từ rời khỏi thành Hành Sơn ngay.

Lục Bách cất giọng âm trầm nói:

– Hai vị chưởng môn Thái Sơn và Ðịnh Dật sư thái đã nói vậy, bọn tại hạ khi nào dám trái các vị, có điều Phí sư đệ phái Tung Sơn bị Lưu Chính Phong ám toán mà bọn tiểu đệ cũng ưng thuận thì không khỏi mang tiếng với đồng đạo giang hồ là phái Tung Sơn bị Lưu Chính Phong uy hiếp nên đành phải cúi đầu hàng phục, thế thì còn chi là thể diện cho phái Tung Sơn?

Ðịnh Dật sư thái nói:

– Ðây là Lưu hiền đệ năn nỉ phái Tung Sơn chứ có phải uy hiếp đâu? Vậy danh từ “cúi đầu hàng phục” kể cũng quá đáng.

Lục Bách hắng giọng một tiếng rồi nói:

– Ðịch Tu, chuẩn bị đi!

Gã đệ tử phái Tung Sơn tên gọi Ðịch Tu đứng ở đằng sau người con lớn của Lưu Chính Phong “dạ” một tiếng rồi nhẹ nhàng chí mũi đoản kiếm trong tay qua làn da sau lưng Lưu công tử. Lục Bách vẫn giữ giọng âm trầm, nói:

– Lưu Chính Phong, ngươi muốn năn nỉ thì theo chúng ta lên núi Tung Sơn ra mắt Tả minh chủ để năn nỉ với người, chúng ta vâng mệnh minh chủ không thể tự quyết định được. Ngươi hãy trả trả lệnh cờ tức khắc và buông tha Phí sư đệ ngay đi.

Lưu Chính Phong nở một nụ cười thê thảm, nhìn con, hỏi:

– Hài nhi, ngươi có sợ chết không?

Lưu công tử đáp:

– Hài nhi đã nghe lời gia gia, quyết không sợ chết.

Lưu Chính Phong nói:

– Thế thì hay lắm!

Lục Bách quát lên:

– Giết đi!

Ðịch Tu liền phóng kiếm về phía trước suốt qua sau lưng, thấu vào trái tim Lưu công tử. Thanh đoản kiếm vừa rút ra, Lưu công tử té xuống liền, máu tươi trào ra như suối. Lưu phu nhân thét lên một tiếng nhảy xổ về phía thi thể con mình. Lục Bách lại quát lên:

– Giết!

Ðịch Tu giơ kiếm lên phóng tới, thanh kiếm lại đâm vào sau lưng Lưu phu nhân. Ðịnh Dật sư thái cả giận vung chưởng lên đánh Ðịch Tu và thóa mạ:

– Thật là quân cầm thú!

Ðinh Trọng nhảy lại phóng chưởng ra nghinh địch. Song chưởng gặp nhau, nhưng chưởng lực của sư thái yếu hơn, mụ phải lùi lại ba bước. Mụ lợm giọng, máu trào lên miệng, nhưng bản tính cương cường hiếu thắng, mụ nuốt máu xuống chứ không thổ ra. Ðinh Trọng tủm tỉm cười nói:

– Ða tạ sư thái đã nhẹ đòn.

Nguyên Ðịnh Dật sư thái không sở trường về chưởng lực, huống chi phát chưởng này mụ phóng ta để đánh Ðịch Tu, là kẻ dưới nên mụ không vận toàn lực. Còn chưởng lực Ðinh Trọng thì thế mạnh bằng lay non dốc biển. Ðịnh Dật sư thái tức quá, toan phóng phát chưởng thứ hai, nhưng lúc vận nội lực thấy huyệt Đan Điền đau như dao cắt thì biết là mình đã bị thương trầm trọng, hiện không còn đủ sức chống đối nữa. Mụ hầm hầm vẫy tay, nói:

– Chúng ta đi thôi!

Rồi rảo bước đi ra cổng lớn. Bọn quần ni dưới trướng theo mụ đi luôn. Lục Bách lại quát lên:

– Giết nữa đi!

Hai tên đệ phái Tung Sơn lại phóng đoản kiếm giết chết hai tên đệ tử nhà họ Lưu. Lục Bách lớn tiếng:

– Ðệ tử Lưu môn hãy nghe đây, tên nào muốn sống thì quỳ xuống năn nỉ kể tội Lưu Chính Phong, ta sẽ tha chết cho.

Con gái Lưu Chính Phong là Lưu Tinh căm giận quát mắng:

– Quân gian tặc kia, phái Tung Sơn các ngươi còn gian ác gấp trăm ngàn lần ma giáo.

Luc Bách thét:

– Giết!

Vạn Đại Bình giơ trường kiếm lên chém sả vào bả vai bên hữu Lưu Tinh. Sử Ðăng Ðạt cùng bọn đệ tử phái Tung Sơn cũng chém mỗi tên một nhát, bao nhiêu đệ tử Lưu môn phái Hành Sơn bị giết sạch. Quần hùng trong nhà đại sảnh tuy đều đã trải qua nhiều trận đao kiếm mà thấy vụ giết chóc thê thảm này cũng không khỏi kinh tâm động phách. Có mấy vị anh hùng tiền bối muốn đứng ra ngăn cản nhưng phái Tung Sơn động thủ quá lẹ, chỉ chần chừ một chút là thây chết đã nằm ngổn ngang khắp sảnh đường. Mọi người tự nhủ:

– Trước nay chính tà không thể chung sống, việc làm này của phái Tung Sơn tuy tàn bạo nhưng không phải để báo thù riêng với Lưu Chính Phong mà là vì mục đích đối phó với ma giáo, vậy họ có ra tay tàn nhẫn một chút cũng không phải là đại tội. Hơn nữa phái Tung Sơn đã kiềm chế toàn cục, cả Ðịnh Dật sư thái phái Hằng Sơn danh tiếng lẫy lừng cũng bỏ đi, Thiên Môn đạo nhân và Nhạc Bất Quần là những tay cao thủ đều không lên tiếng, mình là người ngoài can thiệp vào làm chi? Nếu miễn cưỡng xuất đầu tất khó lòng tránh khỏi cái họa sát thân, chi bằng tự giữ lấy mình mới là người trí.

Bọn đệ tử Lưu môn bị giết sạch rồi, chỉ còn lại đứa nhỏ tên gọi Lưu Cần, là đứa con Lưu Chính Phong rất yêu dấu. Thằng nhỏ này năm nay 15 tuổi, gã mặt thanh mày sáng, thông minh lanh lợi. Hoàng Diện Gia Cát Lục Bách đã tra rõ minh bạch, biết Lưu Chính Phong cực kỳ sủng ái đứa con nhỏ này nên hắn dùng gã để đưa ra ngón đòn tối hậu với Lưu Chính Phong. Hắn quay lại bảo Sử Ðăng Ðạt:

– Ngươi thử hỏi thằng nhỏ đó xem gã đã chịu van lơn xin tha chưa? Nếu không thì cắt mũi, xẻo tai trước, rồi móc mắt, để gã phải đau khổ muôn vàn.

Sử Ðăng Ðạt “dạ” một tiếng, đoạn quay lại hỏi Lưu Cần:

– Ngươi có van xin không?

Lưu Cần sợ quá mặt tái mét, toàn thân run bần bật. Lưu Chính Phong an ủi gã:

– Hảo hài tử, con hãy coi gương anh chị con chết một cách oanh liệt là thế, bây giờ dù họ có giết con thì cứ việc gì mà phải sợ hãi?

Lưu Cần giọng run run, nói:

– Nhưng… nhưng… gia gia ơi!… Họ lại xẻo mũi… móc mắt… hài nhi.

Lưu Chính Phong cười ha hả, nói:

– Ðã đến nước này, chẳng lẽ ngươi còn hòng họ buông tha chúng ta nữa ư?

Lưu Cần ấp úng:

– Gia gia ơi!… Gia gia chịu lời chịu giết… Khúc bá bá…

Lưu Chính Phong tức quát mắng:

– Mi bảo sao? Thằng tiểu súc sinh kia, không được nói bậy!

Sử Ðăng Ðạt khoa lưỡi kiếm vào trước mũi Lưu Cần nói:

– Tiểu tử, nếu mi không quỳ xuống năn nỉ thì lưỡi kiếm này sẽ hớt mũi mi ngay tức khắc. Nào… Một… Hai… Ba…

Sử Ðăng Ðạt vừa đếm dứt tiếng “ba”, Lưu cần đã co gối quỳ mọp ngay xuống van lơn:

– Ðừng.. giết cháu…

Lục Bách cười nói:

– Hay lắm! Mi muốn chúng ta buông tha cũng chẳng khó gì, ta chỉ cần mi tố cáo trước các vị anh hùng thiên hạ hiện diện ở đây những điều lầm lỗi của Lưu Chính Phong mà thôi.

Lưu Cần đăm chiêu ngó phụ thân bằng cặp mắt đầy vẻ van lơn. Lưu Chính Phong vốn người rất bình tĩnh, vợ con lão bị thảm tử trước mắt mà da mặt vẫn không rung động chút nào, thế mà bây giờ lão không nén nổi cơn tức giận, lớn tiếng quát:

– Tiểu súc sinh, mi hành động hèn nhát như vậy thì còn mặt mũi nào trông thấy mẫu thân mi nữa?

Lưu Cần đưa mắt ngó mẫu thân, ca ca cùng tỷ tỷ nằm chết trên vũng máu. Một mặt Sử Ðăng Ðạt vẫn tiếp tục khoa kiếm vào trước mũi làm cho gã sợ đến vỡ mật. Gã nhìn Lục Bách năn nỉ:

– Xin lão gia tha cho cháu… tha cả gia gia cháu nữa.

Lục Bách nói:

– Gia gia mi cấu kết với quân ác nhân trong ma giáo… như vậy có được không? Mi thử nói nghe!

Lưu Cần khẽ lắp bắp:

– Không… không được.

Lục Bách nói:

– Hạng người như vậy có đáng giết đi không?

Lưu Cần cúi đầu xuống không dám trả lời. Lục Bách nói:

– Thằng lỏi này không chịu nói, chém phứt gã đi cho rồi!

Sử Ðăng Ðạt “dạ” một tiếng. Nhưng hắn biết Lục Bách nói câu đó là cốt hăm dọa thằng nhỏ chứ không phải giết thật nên hắn chỉ vung kiếm lên như định chém xuống. Lưu Cần vội nói:

– Nên… nên giết.

Lục Bách nói:

– Hay lắm! Từ đây trở đi mi không phải là người phái Hành Sơn, mà cũng không phải là con Lưu Chính Phong nữa. Ta tha mạng cho mi đó.

Lưu Cần vẫn quỳ mọp dưới đất, hai đùi gã nhũn ra không đứng dậy được. Quần hùng nhìn cảnh tượng này cũng lấy làm xấu hổ thay, có người không nhịn được quay đầu nhìn ra chỗ khác. Lưu Chính Phong buông tiếng thở dài, nói:

– Họ Lục kia, thế là ngươi thắng rồi!

Lão vung tay phải liệng cây cờ về phía Lục Bách, đồng thời chân trái đá Phí Bân ra, dõng dạc nói:

– Lưu mỗ nay đã thân danh tan nát, thôi chẳng giết người làm chi nữa.

Tay trái lão cầm ngang thanh kiếm đưa lên cổ toan tự vẫn. Giữa lúc ấy trước thềm đột nhiên có bóng người áo đen xuất hiện. Người này hành động nhanh như cơn gió thoảng. Y vươn tay chụp lấy cổ tay trái Lưu Chính Phong, quát lên:

– Người quân tử báo thù mười năm cũng vẫn chưa muộn, chúng ta đi thôi!

Tay phải y khoa về phía sau thành một đường vòng tròn, kéo Lưu Chính Phong chạy đi. Lưu Chính Phong nói:

– Khúc đại ca… đại ca…

Nguyên người áo đen này chính là Khúc Dương, trưởng lão ma giáo. Lưu Chính Phong chưa dứt lời Khúc Dương đã gạt đi:

– Ðừng nói nhiều nữa.

Y tăng gia kình lực vào chân, vừa chạy được ba bước thì bọn Ðinh Trọng, Lục Bách, Phí Bân ba người sáu chưởng đồng thời phóng ra nhằm đánh tới sau lưng hai người. Khúc Dương biết trong Lưu Phủ có rất nhiều tay cao thủ mà người nào cũng coi ma giáo là tử thù, nếu để họ xúm lại thì khó lòng thoát thân được. Y liền thét lên, giục Lưu Chính Phong:

– Chạy lẹ đi!

Y vừa nói vừa đưa tay ra đẩy Lưu Chính Phong đi, đồng thời vận nội kình ra sau lưng để chịu đựng phát chưởng của bọn Ðinh Trọng, Lục Bách, Phí Bân. “Sầm” một tiếng vang lên, phát chưởng của ba tay đại cao thủ tận lực phóng tới hất người Khúc Dương bay ra ngoài. Khúc Dương tuy là tay võ công cao cường nhưng chưởng lực của ba tay đại cao thủ phái Tung Sơn cũng ghê gớm vô cùng, bị trúng chưởng lực của một người còn khó lòng chống chọi được, huống chi cả sáu chưởng cùng đánh ra. Khúc Dương oẹ lên một tiếng, miệng phun máu tươi. Lão xoay tay lại vung lên một cái, một nắm mũi kim đen liệng ra như mưa. Ðinh Trọng vội la lên:

– Hắc Huyết thần trâm! Tránh cho mau!

Lão hốt hoảng né sang một bên. Quần hùng thấy Khúc Dương liệng những mũi kim đen sì và đã được nghe từ lâu đại danh về Hắc Huyết thần trâm của ma giáo nên chẳng ai là không kinh hãi, kẻ lui người tránh nhộn nhạo cả lên. Vậy mà vẫn còn nghe thấy những tiếng kêu thất thanh:

– Úi chao!

– Nguy to rồi!

Mười mấy người đồng thanh la hoảng. Nguyên trong sảnh đường đông đặc những người, mà Hắc Huyết thần trâm liệng ra vừa nhiều, vừa mau lẹ. Số người bị trúng độc trâm gây ra tình trạng hỗn loạn, Khúc Dương cùng Lưu Chính Phong thừa cơ trốn biệt.

 Trang trước Trang sau 
avatar
  Subscribe  
Thông báo về