Hồi 1. Côn Luân Tam Thánh

Tiết trời lạnh hoa lê đang rộ,
  Khách nhàn du lãng đãng chơi xuân.
  Hương thơm bay tỏa không gian,
  Cành cây trắng xóa lộc non nở đầy.
  Ánh trăng lạnh canh khuya thanh tĩnh,
  Chiếu trên cao thấp thoáng sông ngân.
  Tâm tình một vẻ miên man,
  Trời cho tính khí cao sang vẻ người.
  Chen lẫn vẻ muôn hoa rực rỡ,
  Vẻ thanh cao vẫn tự vươn cao.
  Thanh anh trác lạc hơn người,
  Dẫu trong ngọc đá có chiều nọ kia.
  Dao đài ai kẻ đi về,
  Hương trời đôi lứa đã kề bên nhau.

Bài từ “Vô Tục Niệm” này vốn là của một vị võ học danh gia, cũng là của một đạo sĩ ở vào cuối đời Nam Tống họ Khưu tên Xứ Cơ, đạo hiệu Trường Xuân Tử. Ông là một trong Toàn Chân thất tử và là nhân vật xuất sắc của phái Toàn Chân. Trong “Từ Phẩm” đã bình về bài từ này như sau: “Trường Xuân người đời vẫn coi là một vị tiên nên lời từ mới hay và xuất sắc đến thế”.

Bài từ tuy nói về hoa lê, nhưng thật ra chính là để ca tụng một thiếu nữ xinh đẹp mặc áo trắng, coi nàng “thực không phải người phàm, thiên tư linh tú, khí độ cao khiết”, lại nói nàng “hạo khí thanh anh, tiên tài trác lạc”, “bất dĩ quần phương đồng liệt”. Người con gái đẹp mô tả trong bài từ này, chính là truyền nhân của phái Cổ Mộ, Tiểu Long Nữ. Nàng vốn ưa mặc đồ trắng, chẳng khác gì gió thổi qua cây ngọc, đóa quỳnh nở trong tuyết, chỉ hiềm tính khí lạnh lùng nên mới tả hình dung là “lãnh mạn dung dung nguyệt”. Khưu Xứ Cơ tặng nàng ba chữ “Vô Tục Niệm” thật mười phần xác đáng. Trường Xuân Tử Khưu Xứ Cơ một lần gặp mặt nàng tại Chung Nam Sơn nên viết ra bài từ này. Còn lúc này Khưu Xứ Cơ tạ thế đã lâu, Tiểu Long Nữ cũng đã làm vợ Thần Điêu đại hiệp Dương Qua.

Trên sơn đạo núi Thiếu Thất, tỉnh Hà Nam, có một thiếu nữ đang cúi đầu lẩm nhẩm bài từ này. Thiếu nữ này ước chừng 18, 19 tuổi, mặc áo màu vàng nhạt, cưỡi một con lừa đen, đi chầm chậm lên núi, vừa đi vừa nghĩ thầm: “Chỉ có người như Long tỷ tỷ mới xứng đáng lấy được chàng mà thôi”.

Chữ “chàng” hiển nhiên là nói đến Thần Điêu đại hiệp Dương Qua. Cô gái để lỏng dây cương, cứ để cho con lừa tự ý thẳng đường đi lên núi. Một lúc lâu sau, cô lại lẩm bẩm: “Hoan lạc thú, biệt ly sầu, nỗi khổ chứa đầy tình tương tư. Ngàn lời muốn tỏ, đều trôi theo áng mây, thiên sơn không băng giá, quân tử đi cùng ai?”

Cô gái lưng đeo đoản kiếm, sắc mặt có nhuốm đôi chút phong trần, hiển nhiên đã viễn du lâu ngày. Gương mặt xinh tươi, đang ở vào tuổi vô tư lự, nhưng sao dung nhan như có gì muộn phiền, đầu mày cuối mắt không thể che giấu được. Nàng họ Quách, tên chỉ có một chữ Tương, chính là con thứ của đại hiệp Quách Tỉnh và nữ hiệp Hoàng Dung, còn có ngoại hiệu là Tiểu Đông Tà. Nàng một lừa, một kiếm, lang thang hành tẩu giang hồ một mình, những tưởng phiền muộn trong lòng sẽ vơi đi, ai ngờ sầu lại thêm sầu, mỗi khi gặp nơi danh sơn lẻ bóng lại càng hiu quạnh.

Núi Thiếu Thất thuộc tỉnh Hà Nam cũng khá cao, đường lên núi là những bậc thang bằng đá rộng rãi, quy mô rất lớn, là do vua Đường Thái Tông đến thăm chùa Thiếu Lâm mà bỏ tài công ra tạo dựng, dài cả thảy tám dặm. Quách Tương cưỡi lừa uể oải đi lên, thấy trước mặt từ trên núi ào ào đổ xuống năm dòng thác tung tóe như ngọc, lại nhìn những ngọn núi khác chỉ nhỏ như đàn kiến. Theo đường sơn đạo chuyển vào một khúc quanh thì thấy một tòa tự viện tường vàng ngói xanh. Nàng đứng ngắm dãy chùa một hồi, nghĩ thầm: “Thiếu Lâm tự vốn là nguồn gốc võ học của thiên hạ, nhưng sao hai kỳ luận kiếm Hoa Sơn trong số ngũ tuyệt không thấy cao tăng nào của chùa Thiếu Lâm cả? Không lẽ hòa thượng trong chùa không tài cán gì, sợ mất uy danh nên không dám phó hội? Hay là tăng lữ tu hành tinh thâm, không còn tham luyến hư danh, võ công tuy cao nhưng không muốn tranh cường đua thắng với người ngoài?”

Nàng xuống lừa, lững thững đến trước cửa chùa, chỉ thấy cây cối rậm rạp, bóng râm che phủ 2 hàng bia đá lớn hai bên lối đi. Những tấm bia đá quá nửa đã bị phá hủy, nét chữ lu mờ, không biết viết những gì. Nàng nghĩ thầm: “Chữ khắc sâu trên đá theo năm tháng cũng mòn, thế nhưng sao những gì khắc trong tim ta thời gian càng lâu càng sâu đậm?”

Chợt thấy một tấm bia lớn khắc về việc Đường Thái Tông ban cho chùa Thiếu Lâm ngự trát, khen tăng nhân về việc lập công trừ loạn. Trong bia nói là khi Đường Thái Tông còn là Tần Vương, đem binh đánh Vương Thế Sung, hòa thượng chùa Thiếu Lâm đầu quân, xuất sắc nhất có cả thảy 13 người. Trong số đó chỉ có Đàm Tông nhận phong làm Đại Tướng Quân, còn 12 người còn lại không muốn làm quan, Đường Thái Tông ban cho mỗi người một áo cà sa bằng lụa tía. Nàng tưởng tượng ngay từ thời Tùy Đường mà võ công chùa Thiếu Lâm đã danh vang thiên hạ, mấy trăm năm nay lại càng thêm tinh xảo, không biết trong chùa có bao nhiêu ngọa hổ tàng long.

Quách Tương từ khi chia tay với vợ chồng Dương Qua, Tiểu Long Nữ ở trên đỉnh Hoa Sơn tới giờ đã 3 năm không nghe chút tin tức gì của hai người. Trong lòng mong nhớ, nàng thưa với cha mẹ, nói là muốn đi ngao du sơn thủy, nhưng thực ra là để nghe ngóng tin tức của Dương Qua. Đoán là vợ chồng Dương Qua ẩn cư ở Cổ Mộ núi Chung Nam, nàng liền đi đến Cổ Mộ, nhưng vợ chồng Dương Qua không có ở đây. Từ khi từ biệt, hai người không lộ diện giang hồ, chẳng biết ẩn cư nơi nào, thành thử Quách Tương đi từ Bắc xuống Nam, lại từ Đông sang Tây, tưởng chừng đã đặt chân quá nửa đất Trung Nguyên, thủy chung vẫn không nghe thấy ai nói đến Thần Điêu đại hiệp Dương Qua cả.

Một hôm nàng đến đất Hà Nam, chợt nhớ ra chùa Thiếu Lâm có một nhà sư tên Vô Sắc, là bạn thân của Dương Qua, hồi trước mình sinh nhật 16 tuổi, nể mặt họ Dương nên ông đã sai người đem tặng nàng một món quà. Nàng nghĩ: “Tuy chưa bao giờ gặp mặt nhà sư này nhưng cũng nên lên hỏi thử một câu, biết đâu ông ta lại rõ tung tích của hai người”. Vì thế Quách Tương mới lên chùa Thiếu Lâm. Đang lúc xuất thần, bỗng nghe từ chòm cây bên cạnh rừng bia truyền ra tiếng leng keng loảng xoảng và tiếng người niệm kinh Phật:

– Khi đó Thế Tôn đứng giữa thiên vạn ức người mà giảng rằng: “Vì yêu mà sinh ra buồn phiền, vì yêu mà sinh ra sợ hãi, nếu như dứt được yêu, chẳng buồn cũng chẳng sợ …”

Quách Tương nghe 4 kệ đó, bỗng thấy ngơ ngẩn trong lòng, nhẩm theo: “Vì yêu mà sinh ra buồn phiền, vì yêu mà sinh ra sợ hãi, nếu như dứt được yêu, chẳng buồn cũng chẳng sợ.”

Tiếng loảng xoảng cùng tiếng tụng kinh xa dần, Quách Tương cúi đầu: “Để ta hỏi ông ta làm cách nào để có thể thoát khỏi tình yêu, làm cách nào để không buồn không sợ?”

Nàng buộc lừa vào một gốc cây, vạch lùm cây đuổi theo. Chỉ thấy đằng sau tàn cây là một đường mòn lên núi, có một tăng nhân gánh một đôi thùng lớn, đang đi chầm chậm. Quách Tương rảo bước chạy theo, đến cách nhà sư chừng 7, 8 trượng, bỗng giật mình. Chỉ thấy người đó gánh một đôi thùng sắt lớn, so với thùng gánh nước thường phải hơn gấp đôi, vậy mà trên cổ, cánh tay, cẳng chân còn quấn đầy dây xích lớn nên mỗi khi đi đứng vang lên tiếng kêu loảng xoảng. Hai chiếc thùng không cũng đã đến hơn hai trăm cân, trong lại đầy nước, phải nặng đến kinh người. Quách Tương kêu lên:

– Đại hòa thượng, xin dừng chân, tiểu nữ có điều muốn thỉnh giáo.

Nhà sư đó quay đầu lại, hai người nhìn nhau, đều tỏ vẻ ngạc nhiên. Hóa ra vị hòa thượng đó là Giác Viễn, 3 năm trước hai người đã gặp nhau tại đỉnh Hoa Sơn. Quách Tương biết ông ta tuy tính hơi cổ hủ nhưng nội công tinh thâm, không kém bất cứ cao thủ nào đương thời, nên nói:

– Cháu tưởng là ai, hóa ra là Giác Viễn đại sư. Tại sao đại sư lại bị hành hạ như thế này?

Giác Viễn khẽ gật đầu mỉm cười, chắp tay hành lễ nhưng không trả lời, quay mình bước đi. Quách Tương vội gọi:

– Giác Viễn đại sư không nhận ra cháu hay sao? Cháu là Quách Tương đây mà!

Giác Viễn quay lại mỉm cười, khẽ gật đầu nhưng không ngừng bước. Quách Tương chạy theo hỏi:

– Ai lấy xích buộc đại sư vậy? Sao lại hành hạ đại sư như thế?

Giác Viễn đưa tay trái ra sau đầu xua xua mấy cái, như ám chỉ cô ta đừng hỏi nhiều. Quách Tương thấy chuyện kỳ quái, lẽ nào không tìm cho ra đầu đuôi, lập tức cất bước đuổi theo, tính sẽ chặn trước mặt nhà sư. Nào ngờ Giác Viễn tuy toàn thân đầy xích, lại gánh đôi thùng sắt, vậy mà dẫu Quách Tương dùng hết sức chạy, thủy chung vẫn không vượt qua được ông ta. Tính trẻ con nổi lên, nàng liền thi triển khinh công gia truyền, hai chân nhún một cái, người bay vọt lên, vươn tay định chụp vào thùng nước. Nàng yên trí chỉ bắt một cái là nắm được mép thùng ngay, ngờ đâu bắt mấy lần đều hụt hết, cái nào cũng còn cách hai tấc là trúng đích. Quách Tương la lớn:

– Đại hòa thượng giỏi thật, thế nào cháu cũng phải đuổi kịp mới thôi.

Chỉ thấy Giác Viễn rảo bước đi, tiếng xích sắt leng keng như tiếng nhạc, mỗi lúc một xa về phía sau núi. Quách Tương đuổi theo một lúc hơi thở đã dồn dập, thế nhưng vẫn cách ông ta đến hơn 1 trượng, trong lòng không khỏi bội phục: “Cha mẹ ta lúc ở trên núi Hoa Sơn đã từng nói là vị hòa thượng này võ công cực cao, lúc đó ta không tin, đến nay thử một chuyến mới thấy quả thật không sai”.

Chỉ thấy Giác Viễn quẹo vào đằng sau một ngôi nhà nhỏ, đổ hai thùng nước vào trong một miệng giếng. Quách Tương hết sức kỳ quái, kêu lên:

– Đại hòa thượng, ông không điên đấy chứ? Đổ nước vào trong giếng để làm gì thế?

Giác Viễn thần sắc bình hòa, lắc đầu. Quách Tương chợt hiểu ra, cười:

– À, hóa ra đại sư đang luyện một môn nội công rất cao thâm.

Giác Viễn lại lắc đầu lần nữa. Quách Tương hơi bực mình, nói:

– Rõ ràng vừa rồi cháu nghe đại sư tụng kinh chứ có câm đâu, sao bây giờ không trả lời cháu?

Giác Viễn chắp tay vái một cái tỏ vẻ xin lỗi nhưng vẫn không đáp lời, quảy đôi thùng đi xuống chân núi. Quách Tương thò đầu nhìn vào trong giếng, chỉ thấy nước trong vắt, không thấy điểm gì đặc biệt, ngẩn ngơ nhìn theo lưng Giác Viễn, lòng đầy nghi hoặc. Vừa rồi vì cố đuổi theo Giác Viễn nên lúc này nàng cảm thấy mệt mỏi, ngồi xuống thành giếng, quan sát phong cảnh bốn bề, thấy núi Thiếu Thất vươn thẳng lên trời, trải ra như một bức bình phong, bên dưới khói tỏa lung linh, tiếng chuông theo gió vang lại khiến bao nhiêu nỗi phiền tục bay đi cả. Quách Tương thầm nghĩ: “Người đệ tử của ông hòa thượng này đi đâu rồi? Nếu ông ta không chịu nói, ta đi hỏi thiếu niên đó vậy”.

Nghĩ vậy nàng cất bước hạ sơn, định đi kiếm đệ tử của Giác Viễn là Trương Quân Bảo hỏi cho ra lẽ. Đi được một quãng, lại nghe tiếng xích leng keng, Giác Viễn lại gánh nước đi tới. Quách Tương núp sau một cây cổ thụ, nghĩ thầm: “Để ta rình xem ông ta định làm trò quỷ quái gì”.

Tiếng xích sắt tới gần, chỉ thấy Giác Viễn gánh đôi thùng sắt, tay cầm một quyển sách, chú tâm vào đọc. Quách Tương đợi ông ta đến gần bên, thình lình nhảy vọt ra kêu lớn:

– Đại hòa thượng xem sách gì thế?

Giác Viễn thất thanh kêu lên:

– Ôi chà, làm bần tăng giật mình, vẫn là cô à?

Quách Tương cười:

– Đại sư bị câm mà sao bây giờ lại nói được vậy?

Giác Viễn có vẻ sợ hãi, nhìn quanh một lượt rồi xua tay mấy cái. Quách Tương hỏi:

– Đại sư sợ cái gì?

Giác Viễn chưa kịp trả lời thì đột nhiên từ trong rừng cây có 2 nhà sư mặc áo màu xám tro bước ra. Nhà sư cao gầy quát:

– Giác Viễn không giữ pháp giới, tự tiện mở miệng nói chuyện với người ngoài chùa, nhất là lại nói chuyện với một thiếu nữ trẻ tuổi. Hãy theo ta đi gặp thủ tọa Giới Luật đường.

Giác Viễn chỉ gật đầu, lủi thủi đi theo hai tăng nhân nọ. Quách Tương vừa tức, vừa giận, lớn tiếng hỏi:

– Trên đời này sao lại có lề luật đâu cấm người ta nói chuyện bao giờ? Tôi quen biết vị đại sư này, tôi nói chuyện với ông ta, việc gì đến các ông?

Nhà sư cao gầy trừng mắt nhìn, nói:

– Từ một nghìn năm nay chùa Thiếu Lâm không cho phép nữ lưu bước chân vào. Mời cô nương xuống núi, đừng để chúng tôi phải làm phiền.

Quách Tương nổi giận:

– Nữ lưu thì đã sao? Đàn bà con gái không phải người à? Các ngươi tại sao làm khó dễ vị Giác Viễn đại sư này? Đã lấy xiềng xích trói người ta, lại còn không cho người ta nói chuyện là nghĩa lý gì?

Nhà sư đó cười nhạt:

– Việc của bản tự đến hoàng đế cũng chẳng can thiệp được, không dám để cô nương phải nhọc lòng hỏi đến.

Quách Tương càng giận hơn:

– Vị đại sư này là người thực thà trung hậu, thấy người ta hiền lành nên các ngươi hiếp đáp ư? Hừ hừ, Thiên Minh thiền sư đâu? Vô Sắc, Vô Tướng hòa thượng đâu? Các ngươi đi gọi họ ra đây để ta hỏi họ xem thế làm như vậy có hợp đạo lý không?

Hai nhà sư nọ nghe thấy thế đều giật mình. Thiên Minh thiền sư là phương trượng của chùa, Vô Sắc thiền sư là thủ tọa La Hán đường, còn Vô Tướng thiền sư là thủ tọa Đạt Ma đường. Ba người địa vị tôn quý nên tăng lữ trong chùa trước nay chỉ gọi là lão phương trượng, thủ tọa La Hán đường và thủ tọa Đạt Ma đường, chứ không dám gọi bằng pháp danh, ngờ đâu một cô gái trẻ tuổi này lại dám lên núi hô hoán thẳng tên như thế. Nhà sư cao gầy pháp danh là Hoàng Minh, cùng sư đệ là Hoàng Duyên, cả hai đều là đệ tử của thủ tọa Giới Luật đường, được lệnh sư sai đi giám thị Giác Viễn. Nay nghe Quách Tương ăn nói không kiêng nể gì ai, nhà sư cao gầy quát:

– Nữ thí chủ nếu còn làm rộn chốn Phật môn thanh tịnh thì đừng trách tiểu tăng vô lễ.

Quách Tương nói:

– Bộ tưởng ta sợ các ngươi hay sao? Mau mau tháo xiềng xích trói Giác Viễn đại sư ra thì ta để yên, nếu không ta sẽ lôi Thiên Minh lão hòa thượng ra hỏi đấy.

Nhà sư lùn nghe thấy Quách Tương ăn nói láo lếu, bên hông lại đeo đoản kiếm nên gằn giọng:

– Cô tháo binh khí để lại rồi mau xuống núi đi, chúng tôi không cãi lý với cô.

Quách Tương tháo đoản kiếm ra, hai tay nâng lên, cười nhạt:

– Hay lắm, xin tuân lệnh tôn đài.

Gã sư lùn từ nhỏ xuất gia, trước nay nghe sư bá, sư thúc, sư huynh đều nói Thiếu Lâm tự là nguồn gốc của võ học, lại nghe là dù danh vọng lớn đến thế nào chăng nữa, võ lâm cao thủ tài ba đến mấy chăng nữa cũng không ai dám đeo binh khí tiến vào trong chùa Thiếu Lâm. Hắn nghĩ cô gái trẻ tuổi này tuy chưa bước chân vào cổng chùa nhưng cũng đã thuộc phạm vi của Thiếu Lâm, hẳn là cô ta cũng sợ nên mới líu ríu giao đoản kiếm, y liền đưa tay ra nhận kiếm. Thế nhưng tay gã vừa chạm vào bao kiếm bỗng thấy chấn động như bị điện giật, một luồng sức mạnh từ đoản kiếm truyền lên, hất về phía sau. Chân đứng không vững khiến gã ngã bổ chửng, lại do đang đứng tại triền núi dốc nên bị ngã lăn xuống mấy trượng, may cố gượng mới dừng lại được. Nhà sư cao gầy vừa tức, vừa sợ, quát:

– Ngươi ăn tim sư tử, uống mật báo hay sao mà dám tới Thiếu Lâm tự gây rối hả?

Y xoay người lại, tiến lên một bước, tay phải tung ra một chưởng, tay trái cũng đi theo đè lên tay phải, hai tay cùng đánh ra, chính là thế thứ 28 trong Sấn Thiếu Lâm, gọi là Phiên Thân Phách Kích. Quách Tương tay cầm cán kiếm, dùng cả kiếm lẫn bao nhằm vai gã điểm tới. Nhà sư hạ vai xuống phản kích, vươn tay chộp lấy bao kiếm. Giác Viễn đứng bên thấy thế hoảng hốt kêu lên:

– Xin đừng động thủ, đừng động thủ! Hãy từ từ nói chuyện phải quấy.

Lúc đó tăng nhân đã nắm được bao, đang định vận kình đoạt kiếm, chỉ thấy lòng bàn tay bị chấn động, hai cổ tay hơi tê đi, kêu lên một tiếng “Hỏng rồi” thì Quách Tương chân trái đã quét ngang, đá y văng xuống sườn núi. Y bị đòn so với gã sư lùn còn nặng hơn nhiều, khi lăn xuống đầu, vai bị va vào đá, máu chảy lênh láng, mãi mới ngừng lại được. Quách Tương nghĩ thầm: “Ta lên chùa Thiếu Lâm vốn chỉ muốn dò hỏi tin tức đại ca, vô cớ cùng bọn họ động thủ, xem ra không ổn rồi”.

Liếc mắt thấy Giác Viễn mặt mày buồn thiu đứng bên cạnh, nàng liền rút đoản kiếm ra chặt những dây xích buộc ở tay ông ta. Tuy đoản kiếm đó không phải là vật hi hữu quý báu nhưng cũng là một loại binh khí rất sắc bén, chỉ nghe loảng xoảng mấy tiếng, dây xích đã đứt thành ba khúc. Giác Viễn luôn mồm kêu:

– Không được đâu! Không được đâu!

Quách Tương hỏi lại:

– Cái gì mà không được?

Rồi chỉ tay về phía hai tăng nhân cao, lùn đang chạy vào chùa mà nói:

– Hai tên ác hòa thượng đó hẳn là vào chùa phi báo, mình phải chạy ngay. Đồ đệ họ Trương của đại sư đâu? Dắt cậu ta theo luôn đi.

Giác Viễn chỉ xua tay, bỗng phía sau có tiếng người nói:

– Đa tạ cô nương quan tâm, tôi đang ở đây.

Quách Tương quay lại, thấy một thiếu niên chừng 16, 17 tuổi, mày rậm, mắt to, thân thể cao lớn nhưng mặt vẫn còn trẻ con, chính là Trương Quân Bảo, người 3 năm trước đã gặp trên núi Hoa Sơn. So với bấy giờ cậu ta đã cao lớn hơn nhiều nhưng dung mạo không thay đổi mấy. Quách Tương mừng quá, vội nói:

– Bọn ác hòa thượng ở đây chèn ép sư phụ ngươi, mình nên chạy ngay đi.

Trương Quân Bảo lắc đầu:

– Không ai chèn ép sư phụ tôi đâu.

Quách Tương chỉ Giác Viễn:

– Hai gã ác hòa thượng đó lấy xích buộc sư phụ ngươi, lại một câu cũng không cho nói, chẳng chèn ép thì là gì?

Giác Viễn nhăn nhó lắc đầu, chỉ tay xuống chân núi, ý muốn Quách Tương mau mau thoát thân, đừng để bị rắc rối. Quách Tương biết rằng trong chùa Thiếu Lâm số người võ công cao hơn nàng không biết bao nhiêu, nhưng thấy việc bất bình trước mắt không thể xuôi tay bỏ qua nên một tay nắm Giác Viễn, một tay nắm Trương Quân Bảo, giậm chân nói:

– Chạy mau, chạy mau, có chuyện gì xuống núi đã rồi hãy nói cũng được.

Hai người chỉ đứng yên không trả lời. Bỗng thấy cửa chùa ở triền núi bên dưới chạy ra 7, 8 tăng nhân, tay cầm tề mi đại côn, mồm quát lớn:

– Quân giặc nào dám đến chùa Thiếu Lâm mà phá phách như vậy?

Trương Quân Bảo đưa tay làm loa kêu lớn:

– Các vị sư huynh không được vô lễ, đây là…

Quách Tương hoảng hốt:

– Đừng nói tên tôi ra.

Nàng nghĩ chuyện ngày hôm nay xem chừng không nhỏ, thể nào rồi cũng đồn ra đến tai cha mẹ, nên thêm một câu:

– Bọn mình nên theo đường núi chạy ngay, tuyệt đối đừng đề cập đến tên cha mẹ, bạn bè tôi.

Chỉ nghe thấy sườn núi phía sau cũng có tiếng người la ó, lại thêm 7, 8 nhà sư nữa chạy ra. Quách Tương thấy trước sau đều có sư bao vây, nhíu mày trách:

– Các ngươi cứ lừng thà lừng thừng, không có chút khí phách gì của nam nhi cả. Chạy hay không nào?

Trương Quân Bảo nói:

– Sư phụ, cô nương đây có lòng tốt…

Ngay lúc đó, cửa chùa bên dưới lại ra thêm 4 nhà sư áo vàng, phấp phới chạy thẳng lên, tay không cầm binh khí nhưng thân pháp nhanh nhẹn, gió thổi vào áo phần phật, xem ra võ công không phải tầm thường. Quách Tương thấy tình thế như vậy, xem chừng chạy thoát thân một mình cũng không xong nên ngưng khí đứng yên, chờ xem chuyện gì xảy ra. Nhà sư đi trước đến cách nàng chừng bốn trượng, lớn tiếng nói:

– Thủ tọa La Hán đường sư tôn truyền rằng, người đến chùa mau bỏ binh khí, xuống Lập Tuyết đình dưới núi nói rõ sự tình để nghe pháp dụ.

Quách Tương cười nhạt:

– Gớm, các đại hòa thượng chùa Thiếu Lâm quan cách quá nhỉ. Xin hỏi, các đại hòa thượng là quan của hoàng đế Đại Tống hay là quan của hoàng đế Mông Cổ đấy? Hay vẫn còn là quan của hoàng đế Đại Kim?

Khi đó đất đai phía Bắc sông Hoài không còn thuộc về nhà Đại Tống nữa, trước vốn do nước Kim cai quản, nay nước Kim đã mất vào tay Mông Cổ, khu vực chùa Thiếu Lâm cũng đã thuộc về Mông Cổ từ lâu. Thế nhưng quân Mông nhiều năm qua còn bận công thành Tương Dương chưa được, không hơi sức đâu mà lo chuyện chùa chiền nên chùa Thiếu Lâm mọi sự vẫn được như cũ. Gã tăng nhân nghe Quách Tương mỉa mai thật là chua cay nên không khỏi đỏ mặt, cảm thấy đối với người ngoài mà truyền dụ như vậy quả không ổn nên, chắp tay nói:

– Không biết nữ thí chủ có chuyện gì mà quang lâm tệ tự, xin để binh khí xuống, mời xuống vi đình dưới chân núi uống trà nói chuyện.

Quách Tương thấy y đổi giọng hòa nhã nên cũng muốn làm hòa, nói:

– Các ông không cho tôi vào chùa thì thôi.

Nói rồi liếc nhìn Trương Quân Bảo, nói nhỏ:

– Có chạy hay không thì bảo?

Trương Quân Bảo lắc đầu, liếc mắt về phía Giác Viễn, ý nói muốn ở lại hầu hạ sư phụ. Quách Tương lớn tiếng nói:

– Thế thì thôi ta không lo cho nữa, ta đi đây.

Nói rồi rảo bước chạy xuống núi. Nhà sư áo vàng đi đầu né sang nhường lối, nhưng người thứ hai và người thứ ba giơ tay ngăn lại, cùng nói:

– Hãy khoan, để binh khí lại.

Quách Tương nhướng mày, tay để lên cán kiếm. Nhà sư thứ nhất nói:

– Chúng tôi không dám giữ binh khí của nữ thí chủ đâu, khi xuống đến chân núi chúng tôi lập tức đem bảo kiếm giao lại. Đây là quy củ của chùa Thiếu Lâm hàng nghìn năm nay, xin lượng thứ cho.

Quách Tương nghe y ăn nói lễ độ, trong lòng thầm tính: “Nếu như mình không để kiếm lại, thế tất phải đánh nhau. Ta chỉ có một mình, đâu phải là địch thủ của tăng chúng chùa Thiếu Lâm, thế nhưng nếu để kiếm lại, chẳng há đem thể diện ông ngoại, cha, mẹ, đại ca ca, Long tỷ tỷ, bỏ đi sao?”

Nàng còn đang trù trừ chưa quyết, chỉ thấy trước mắt một bóng vàng thấp thoáng, một người thét:

– Đã đeo kiếm đến chùa Thiếu Lâm, lại đả thương người, trên đời này đâu có lý nào như thế?

Kình phong xô tới, năm ngón tay chộp lấy bao kiếm. Giá như tăng nhân đó để yên không ra tay, Quách Tương thấy trước mắt tình thế bất lợi, ắt sẽ tạm nhịn cái khí nhất thời, thế nhưng đối phương đột nhiên ỷ mạnh, chẳng lẽ để y khơi khơi đoạt kiếm sao? Cầm nã thủ pháp của nhà sư đó quả thực xảo diệu, vừa ra tay đã nắm được bao kiếm, liền nghĩ thầm: “Thế nào cô ta cũng giật lại, một hòa thượng cùng một cô gái co co kéo kéo, coi sao được?”

Nghĩ vậy, y liền vận kình đẩy sang bên trái, thuận thế lại kéo về bên phải. Quách Tương bị y vừa nắm vừa đẩy như thế quả nhiên không cưỡng lại được, phải lỏng tay ra, vội chụp lấy cán kiếm, chỉ “soạt” một tiếng, hàn quang lấp lánh, tăng nhân nọ tay phải tuy cầm được bao kiếm nhưng 2 ngón tay trái đã bị đoản kiếm thuận thế cắt đứt, đau quá phải ném bao kiếm, lui sang một bên. Chúng tăng nhân thấy đồng môn bị thương, vừa kinh, vừa giận, múa trượng, giơ côn cùng xông lại. Quách Tương nghĩ thầm: “Thôi thì đến đâu thì đến, chuyện hôm nay xem không xong rồi”. Nghĩ rồi nàng sử dụng tài nghệ gia truyền là Lạc Anh kiếm pháp, vừa múa vừa xông xuống chân núi, các nhà sư xếp thành ba vòng, chia nhau đỡ gạt. Lạc Anh kiếm pháp vốn do Hoàng Dược Sư theo Đào Hoa Lạc Anh chưởng mà chế ra, là một tuyệt kỹ của đảo Đào Hoa. Chỉ thấy ánh xanh lấp loáng, kiếm hoa từng điểm như phất phới đang rơi khắp bốn bề, trong chốc lát đã có 2 tăng nhân bị thương. Nếu theo lý thì Quách Tương không thể nào đương cự nổi, nhưng tăng chúng Thiếu Lâm thấy kiếm pháp tinh kỳ, biết là không thuộc dòng dõi danh môn cũng là đồ đệ danh sư, không nên đắc tội, nên ra chiêu dè dặt, còn một mặt cho người về cấp báo cho thủ tọa La Hán đường là Vô Sắc thiền sư.

Đang lúc hỗn chiến, một vị sư già thân thể cao gầy chầm chậm đi tới, hai tay luồn trong tay áo, mỉm cười xem hai bên giao đấu. Quách Tương lúc này đã thở hồng hộc, kiếm pháp đã loạn, kêu lớn:

– Vậy mà dám gọi là nguồn gốc võ công thiên hạ, hóa ra hơn một chục hòa thượng vây đánh một thiếu nữ.

Vị lão tăng đó chính là thủ tọa La Hán đường Vô Sắc thiền sư, nghe vậy liền nói:

– Mọi người dừng tay!

Những nhà sư nghe thế vội ngưng lại, nhảy ra ngoài. Vô Sắc thiền sư nói:

– Cô nương tên họ là gì, lệnh tôn và lệnh sư là ai? Đến chùa Thiếu Lâm chẳng hay có chuyện gì?

Quách Tương nghĩ thầm: “Ta không nên nói tên họ cha mẹ cho ông ta biết, và việc ta đến chùa Thiếu Lâm để thăm hỏi tin tức của đại ca cũng không thể nói ra cho mọi người nghe được. Mình đã gây rắc rối thế này, cha mẹ và đại ca biết được thể nào cũng rầy rà, chi bằng mình cứ lặng thinh là hơn”. Vì thế nàng đáp:

– Tên họ tôi không thể cho ông biết được, chẳng qua tôi thấy trên núi phong cảnh đẹp đẽ nên lên ngắm cảnh đấy thôi, nào ngờ chùa Thiếu Lâm so với nội viện hoàng cung còn khó khăn hơn, chẳng làm gì cũng đòi giữ binh khí người ta lại. Xin hỏi đại sư, tôi đã bước chân vào cổng chùa chưa? Ngày trước Đạt Ma sư tổ truyền võ nghệ chẳng qua cũng chỉ để cho tăng chúng thân thể khỏe mạnh, giúp cho việc tham thiền thành Phật, nào hay danh tiếng càng to, võ công càng cao thì cái việc cậy đông cậy mạnh lại càng lớn. Hay lắm, nếu các ông muốn giữ binh khí của tôi thì tôi để lại, và cũng nên giết tôi luôn đi, bằng không câu chuyện ngày hôm nay giới giang hồ thế nào cũng sẽ biết đến.

Cô ta bản chất nhanh mồm nhanh miệng, chỉ một câu khiến Vô Sắc thiền sư cứng họng không trả lời được. Quách Tương nhìn mặt đặt tên, nghĩ thầm: “Việc quấy phá này chính ta mới là người sợ lộ ra ngoài, nhưng xem ra Thiếu Lâm tự còn ngại hơn. Hơn một chục hòa thượng vây đánh một cô gái trẻ tuổi, nghe có gì là hay ho?” Nghĩ thế bèn “hứ” một tiếng, ném đoản kiếm xuống đất, quay mình bước đi. Vô Sắc thiền sư lạng người tiến lên, phất tay áo một cái đã cuộn được thanh kiếm, hai tay cầm lấy lưỡi kiếm, nói:

– Cô nương nếu nể tình thầy trò chúng tôi, thanh bảo kiếm này xin cầm lại. Lão nạp cung kính tiễn cô xuống núi.

Quách Tương nghe vậy cười đáp:

– Xem ra lão hòa thượng thông tình đạt lý, thế mới gọi là phong phạm của bậc danh gia.

Cô ta thấy mình được thế nên thuận mồm khen Vô Sắc một câu rồi thò tay lấy kiếm, bỗng giật mình. Nguyên lai lòng bàn tay đối phương sinh ra một hấp lực, tuy cô ta đã cầm được cán kiếm nhưng không sao nâng lên được. Nàng ra sức vận kình ba lần nhưng vẫn không sao lấy được đoản kiếm, bèn nói:

– Hay nhỉ, ông định khoe công phu chăng?

Đột nhiên tay trái nàng vung ra, nhẹ nhàng hướng vào hai huyệt Thiên Đỉnh và Cự Cốt ở bên trái cổ ông ta phất tới. Vô Sắc kinh hãi, né người tránh, khí kình hơi lỏng ra nên Quách Tương thuận thế mà lấy được đoản kiếm. Vô Sắc nói:

– Công phu Lan Hoa Phất Huyệt thủ hay thật, chẳng hay cô xưng hô với Đào Hoa đảo chủ như thế nào?

Quách Tương cười đáp:

– Đào Hoa đảo chủ ư? Tôi gọi ông ta là Lão Đông Tà.

Đào Hoa đảo chủ Đông Tà Hoàng Dược Sư chính là ông ngoại của Quách Tương, tính tình khác người, trước nay vốn không câu nệ lễ phép. Ông thường gọi đùa cô cháu ngoại là Tiểu Đông Tà, Quách Tương liền gọi lại ông ngoại là Lão Đông Tà, Hoàng Dược Sư không những không la rầy, còn tỏ ra hoan hỉ. Vô Sắc thiền sư làm sao biết chuyện đó, nên khi nghe Quách Tương nói vậy liền nghĩ: “Hẳn cô ta không liên quan gì đến Hoàng Dược Sư mới dám vô lễ như thế.”

Vô Sắc lúc thiếu thời vốn là lục lâm, tuy đã nương thân cửa thiền mấy chục năm, Phật học uyên thâm nhưng hào khí xưa vẫn chưa dứt, nếu không làm sao kết bạn được với Dương Qua. Ông thấy cô gái này không chịu khai sư thừa lai lịch, đại sư càng muốn để nàng nói ra mới thôi, liền cười lớn, nói:

– Tiểu cô nương hãy tiếp ta 10 chiêu để xem nhãn lực lão hòa thượng thế nào, có nói ra được môn phái của cô chăng?

Quách Tương hỏi lại:

– Nếu như 10 chiêu mà không nhìn ra thì đại sư tính sao?

Vô Sắc thiền sư lớn tiếng cười:

– Nếu vậy thì cô nương muốn chuyện gì ta cũng nghe theo.

Quách Tương chỉ Giác Viễn, nói:

– Tôi cùng vị đại sư này trước đây có duyên một lần gặp gỡ nên muốn thay ông ta cầu chút tình. Nếu như 10 chiêu mà đại sư không nói được sư phụ tôi là ai, chỉ xin đừng làm khó dễ vị đại sư này nữa.

Vô Sắc nghe vậy hết sức ngạc nhiên, nghĩ thậm: “Giác Viễn mấy chục năm qua trông coi sách vở tại Tàng Kinh các, không giao du với người ngoài bao giờ, tại sao lại quen được với cô gái này?” Nghĩ đoạn đại sư đáp:

– Vốn đâu có ai làm khó dễ gì y, tăng chúng trong chùa phạm giới luật thì dù ai cũng phải chịu phạt chứ đâu phải là làm khó dễ.

Quách Tương bĩu môi, cười:

– Hừ, nói qua nói lại, ông cũng đều né tránh cả.

Vô Sắc vỗ tay một cái, nói:

– Được rồi, theo lời cô. Nếu như thua, lão nạp sẽ gánh thay thay sư đệ Giác Viễn 3108 gánh nước.

Khi đang nói chuyện, Quách Tương đã thầm tính trong lòng: “Lão hòa thượng này khí ngưng thần tĩnh, võ công cao cường, nếu như để ông ta xuất chiêu ta ắt phải hết sức chống đỡ, không thể nào không lộ võ công của cha mẹ mình ra, chi bằng ta chiếm tiên cơ, đánh ra 10 chiêu liền”. Nghĩ vậy nên không đợi ông ta ra quyền cước, nghe “vèo” một tiếng, đoản kiếm của nàng đã nhắm thẳng vào ngực Vô Sắc đâm tới, là một chiêu trong Lạc Anh kiếm pháp của đảo Đào Hoa tên là Vạn Tử Thiên Hồng. Chiêu này mũi kiếm đâm ra liên tiếp rung động để cho đối thủ không biết công vào chỗ nào. Vô Sắc biết là lợi hại, nghiêng mình tránh ra. Quách Tương lại kêu:

– Chiêu thứ hai này!

Đoản kiếm quay lại, từ dưới đâm lên trên, chính là một chiêu trong kiếm pháp phái Toàn Chân tên là Thiên Thần Đảo Huyền. Vô Sắc nói:

– Hay lắm, đó là Toàn Chân kiếm pháp.

Nàng thấy đoản kiếm đâm vào khoảng không, còn Vô Sắc phản thủ vi công, đưa tay ra toan nắm lấy cổ tay mình, trong lòng hơi sợ, nghĩ thầm: “Lão hòa thượng quả nhiên giỏi thực, trong khi kiếm chiêu hung hiểm như thế mà dám đưa tay không ra công kích”.

Vừa thấy bàn tay ông ta đến trước mặt, nàng vội vung đoản kiếm lên mấy vòng, sử dụng chiêu Ác Cẩu Lan Lộ thuộc chữ Phong trong Đả Cẩu Bổng pháp. Cô ta từ nhỏ vẫn thường giao hảo với bang chủ tiền nhiệm Cái Bang là Lỗ Hữu Cước, cùng nhau uống rượu đánh đố, có khi còn cùng y tỉ thí võ nghệ. Tuy Cái Bang có quy củ, Đả Cẩu Bổng pháp là thần kỹ trấn bang, không phải bang chủ không được truyền thụ, nhưng khi Lỗ Hữu Cước sử dụng Quách Tương cũng học lóm được. Huống gì mẹ nàng Hoàng Dung cũng là bang chủ tiền nhiệm Cái Bang, rồi bang chủ hiện tại Gia Luật Tề là anh rể nàng, môn Đả Cẩu Bổng pháp này nàng xem không biết bao nhiêu lần, tuy không rõ khiếu quyết bên trong nhưng cứ nhái theo cách thức đánh ra cũng làm cho người ta kinh hãi.

Ngón tay Vô Sắc vừa sắp chạm đến cổ tay nàng, bỗng thấy bạch quang lấp loáng, thế kiếm đâm tới hết sức thần diệu, nếu ông ta võ công không trác tuyệt, biến chiêu thật nhanh, trong lúc nguy cấp nhảy lùi về sau hai bước thì 5 ngón tay đã bị chặt đứt rồi. Nhưng nghe “soạt” một tiếng, ống tay áo bên trái đã bị đoản kiếm cắt rách một đường dài. Vô Sắc thiền sư nhìn chỗ áo rách mà mặt mày biến sắc, lưng toát mồ hôi lạnh.

Quách Tương rất lấy làm đắc ý, cười hỏi:

– Cái đó là kiếm pháp gì thế?

Thực ra trong thiên hạ không có loại kiếm pháp đó, vốn chỉ là một thế Đả Cẩu Bổng pháp dùng lẫn vào trong, nhưng Đả Cẩu Bổng pháp quá ư ảo diệu, tuy nàng dùng chẳng đi đến đâu nhưng cũng đã làm cho một vị cao tăng Thiếu Lâm danh tiếng lẫy lừng hết sức nghi hoặc, không biết phải đối đáp thế nào cho phải. Quách Tương nghĩ thầm: “Ta chỉ cần sử dụng vài chiêu Đả Cẩu Bổng pháp là thể nào cũng đánh bại được lão hòa thượng này, tiếc rằng ngoài thế này ra ta không nhớ thêm thức nào nữa”.

Không đợi cho Vô Sắc suy nghĩ, nàng lại vung đoản kiếm lên, nhẹ nhàng đâm tới, tư thái phiêu phiêu như tiên, mũi kiếm nhắm hạ bàn đối phương điểm liên tiếp mấy nhát, chính là một thế học trong Ngọc Nữ kiếm pháp của Tiểu Long Nữ tên là Tiểu Viên Nghệ Cúc (trồng cúc trong vườn nhỏ). Ngọc Nữ kiếm pháp vốn do nữ hiệp Lâm Triều Anh sáng tác, rất ít thấy trên giang hồ, không những kiếm chiêu lăng lệ mà tư thế lại thoát tục, tư thế nhàn nhã, hoàn toàn bất đồng với Đạt Ma kiếm pháp, La Hán kiếm pháp của chùa Thiếu Lâm. Vô Sắc thiền sư mặc dù giao hảo với Dương Qua nhưng chưa bao giờ thấy y sử qua Ngọc Nữ kiếm pháp, lại là người đam mê võ thuật, thấy Quách Tương kiếm thuật vừa tinh diệu, vừa mỹ lệ cũng muốn xem thêm thức khác nên né mình tránh ra chờ nàng đánh thêm. Bỗng Quách Tương đổi kiếm chiêu, chạy qua Đông, lại nhảy sang Tây, liên tiếp đâm ra mấy nhát. Trương Quân Bảo đứng bên nhìn mà xuất thần, bỗng kêu “ồ” một tiếng. Nguyên lai chiêu Quách Tương vừa sử dụng là chiêu Tứ Thông Bát Đạt, ba năm trước trên đỉnh núi Hoa Sơn Dương Qua đã dạy cho Trương Quân Bảo, Quách Tương đứng ở bên cạnh học lỏm, nay đem ra sử dụng. Thế nhưng lúc đó Dương Qua dạy Trương Quân Bảo là chưởng pháp, uy lực tuyệt luân, khắc phục được Doãn Khắc Tây, còn bây giờ Quách Tương lại biến thành kiếm pháp, uy lực kém đi mấy phần, tuy nhiên vẫn rất tinh kỳ khiến Vô Sắc trong lòng phải thầm kinh hãi. Tính ra, Quách Tương đã sử dụng 5 chiêu nhưng Vô Sắc chưa nhìn ra chút đầu mối nào.

Lão hòa thượng khi còn trẻ ông ta tung hoành giang hồ, lịch duyệt nhiều, mười mấy năm qua giữ chức thủ tọa La Hán đường, lại càng gia tâm nghiên cứu các nhà, các phái, so sánh võ công của chùa với bên ngoài, lấy trường bổ đoản, sửa lại những chỗ còn khiếm khuyết, thành ra ông ta rất tự tin, nghĩ rằng dù đối phương thế nào, chỉ cần vài chiêu là có thể nhìn ra lai lịch. Ông ta ước định với Quách Tương 10 chiêu là đã tính già lắm rồi, nào ngờ cha, mẹ, thầy, bạn của Quách Tương đều là đệ nhất cao thủ đương thời, chỉ cần sử dụng võ công mỗi người một chiêu, chỗ này một chút, chỗ kia một chút đã khiến cho Vô Sắc hoa cả mắt, rối cả trí, còn nói gì đến chuyện nói ra môn phái.

Khi Quách Tương vừa sử xong 4 đường kiếm của chiêu Tứ Thông Bát Đạt, Vô Sắc nghĩ thầm: “Nếu như ta cứ để cho cô ta xuất chiêu, chỉ e rằng quái chiêu sẽ liên miên bất tuyệt, nói chi 10 chiêu, đến 100 chiêu chắc gì đã tìm ra manh mối. Chỉ có cách là ta tấn công mãnh liệt để cô ta không thể không giở võ công bản môn ra chống đỡ”.

Vô Sắc lập tức chuyển thân qua bên trái, tung ra một chiêu Song Quán thủ, hổ khẩu hai nắm tay chầu vào nhau, vẽ thành một hình vòng, đánh thẳng vào. Quách Tương thấy kình lực của ông ta rất mạnh, không dám chống đỡ, uốn mình một cái đã theo khoảng trống giữa hai cánh tay đối phương mà lọt ra ngoài. Năm đó nàng nghe nói Anh Cô có môn Nê Thu công, thân hình trơn bóng, yếu không địch được mạnh thì có thể thi triển môn này, liền xin Anh Cô chỉ điểm cho một chút, lúc này cứ y theo mà thi triển. Tuy thân pháp và công phu của cô không bằng Anh Cô nhưng Quách Tương vẫn nhẹ nhàng thoát ra được. Vô Sắc cất tiếng khen:

– Thân pháp hay lắm, tiếp thử một chiêu nữa xem nào!

Tả chưởng xòe ra, cùi chỏ thu vào ngực, hổ khẩu hướng lên trời, chính là thế Hoàng Oanh Lạc Giá trong Thiếu Lâm quyền. Vô Sắc là võ học đại sư của chùa Thiếu Lâm, thân phận hai bên bất đồng, tuy hiểu biết võ học còn uyên bác hơn Quách Tương nhưng ông chỉ sử dụng đều thuần chính võ công bản môn chứ không sử dụng võ công bên ngoài. Thiếu Lâm quyền rất rộng lớn, thoạt xem bình thường không có gì lạ nhưng luyện đến chỗ tinh thâm, uy lực thật không biết đến chừng nào. Bàn tay trái của ông vừa xòe ra, Quách Tương đã thấy thượng bán thân bị lọt vào trong chưởng lực. Nàng vội vàng xoay kiếm lại, dùng cán kiếm thay ngón tay, sử dụng một chiêu Nhất Dương chỉ học lỏm được của Võ Tu Văn, dùng kình điểm 3 huyệt Uyển Cốt, Dương Cốc, Dưỡng Lão trên cổ tay Vô Sắc. Thực ra công phu điểm huyệt Nhất Dương chỉ nàng chỉ học được chút vỏ bên ngoài, rất là thô thiển, thế nhưng một chỉ điểm 3 huyệt chính là tinh yếu của công phu này.

Trước đây Nhất Dương chỉ của Nhất Đăng đại sư vang danh thiên hạ, Vô Sắc thiền sư dĩ nhiên phải biết. Khi Quách Tương vừa xuất chiêu, ông kinh hãi, vội vàng rụt tay về. Kỳ thực, nếu như Vô Sắc cứ để yên cho Quách Tương điểm 3 huyệt đạo, sẽ thấy ngay là Nhất Dương chỉ của nàng là giả, nhưng trong lúc hai bên toàn lực tương đấu, ông đâu dám đem danh tiếng cả đời mình ra thử. Quách Tương đắc ý cười:

– Đại hòa thượng cũng biết là lợi hại nhỉ?

Vô Sắc chỉ “hừ” một tiếng, đánh ra chiêu Đơn Phụng Triều Dương. Chiêu này hai tay mở rộng, giơ từ cao đánh xuống, kình lực ào ào tràn tới. Thanh đoản kiếm trong tay Quách Tương cầm không nổi, tuột khỏi tay rơi xuống đất. Nàng biết là đối phương không nỡ ra tay hạ sát thủ nên không kinh hoảng, song chưởng đan chéo vào nhau, dường như có dường như không, chính là lộ thứ 54 có tên Diệu Thủ Không Không trong 72 đường Không Minh quyền, kiệt tác đắc ý của Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông. Đường quyền này do Chu Bá Thông tự sáng tác, chưa lưu truyền trong giang hồ nên tuy Vô Sắc kiến thức uyên bác nhưng cũng không biết đến. Ông liền vẽ song chưởng thành hình vòng cung, đánh ra chiêu Thiên Hoa Thất Tinh, nhanh như điện tràn tới bao phủ chưởng lực của Quách Tương. Nếu Quách Tương không dùng nội lực chống đỡ, tay sẽ bị bẻ quặt về sau, gãy thành hai đoạn. Thiên Hoa Thất Tinh là một chiêu cơ bản trong công phu Thiếu Lâm, trông tưởng chậm nhưng thật là nhanh, tưởng nhẹ nhưng thật là nặng. Chiêu này tuy là tư thức trong Sấm Thiếu Lâm nhưng ý kình nội lực lại từ tinh yếu trong Thần Hoa Thiếu Lâm, nguyên là cảnh giới rất cao của quyền pháp Thiếu Lâm. Quách Tương thủ chưởng bị khống chế, nghĩ thầm: “Không lẽ ông dám đánh gãy xương tay ta ư?” Nghĩ vậy, nàng thuận thế giơ tay lên, dùng chiêu Thiết Bồ Phiến Thủ, lấy chưởng đối chưởng phản kích lại. Chiêu này nàng học của vợ Võ Tu Văn là Hoàn Nhan Bình, vốn do Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhận truyền lại. Thiết Chưởng công là võ công cương mãnh hạng nhất trong mọi môn phái, Vô Sắc thiền sư chuyên nghiên cứu chưởng pháp, lẽ nào không biết. Ông ta là người trung hậu, biết rõ đối phương kình lực có hạn nên vội vàng thu chưởng, nhảy lùi lại nửa trượng. Quách Tương thản nhiên mỉm cười:

– Đây là chiêu thứ 10, ông xem tôi ở môn phái nào?

Tay trái nàng giơ lên, thân hình hơi chồm tới, tay phải luồn vào toan chộp lầy cằm của Vô Sắc. Vô Sắc cùng chúng tăng ngạc nhiên kêu “ồ” một tiếng. Nguyên chiêu đó có tên là Khổ Hải Hồi Đầu, chính là một chiêu trong La Hán quyền của phái Thiếu Lâm chính tông. Dụng ý của chiêu này là tay trái ấn đầu đối phương, tay phải đỡ lấy cằm, vặn một cái, nặng ắt gãy cổ, nhẹ cũng trật khớp, là một chiêu sát thủ rất lợi hại, chỉ sử dụng khi sống chết kề bên. Vô Sắc thiền sư thấy cô ta giở một chiêu trong La Hán quyền, thật chẳng khác nào múa búa trước cửa Lỗ Ban, đem Hiếu kinh đọc cho Khổng Tử nghe, nghĩ vừa bực mình, vừa tức cười. Pho quyền pháp này ông đã thành thục từ mấy chục năm trước, luyện đã đến mức không còn phải suy nghĩ, ra chiêu là ra, dù có đang nằm ngủ cũng có thể giải được chiêu này. Ông nghiêng người bước qua một bên, tay trái đặt ngang mặt Quách Tương, vươn một cái đã nắm được vai phải, tay trái nhanh như chớp luồn ra sau cổ. Chiêu này tên là Hiệp Sơn Siêu Hải, là chiêu để giải thế Khổ Hải Hồi Đầu, hai tay vừa ra là đã nâng ngang địch nhân lên khỏi mặt đất. Đúng ra thì Quách Tương có thể theo đó mà sử dụng thế Bàn Trửu, nắm ngược lại cùi chỏ đối phương để thoát thân, nhưng Vô Sắc thiền sư phản công quá nhanh, chỉ trong chớp mắt đã nhấc bổng nàng lên. Quách Tương hai chân rời khỏi mặt đất, còn thi triển công phu nào được, dĩ nhiên thua rồi.

Vô Sắc thiền sư thuận tay chế ngự Quách Tương nhưng bỗng giật mình: “Chao ôi! Ta chỉ mong thủ thắng nhưng không nghĩ đến việc tìm ra sư thừa môn phái của cô ta. Trong 10 chiêu cô ta sử dụng 10 môn quyền pháp khác nhau, biết gọi là môn phái nào?”

Quách Tương ra sức giãy giụa, la lối:

– Thả tôi ra!

Chỉ nghe một tiếng “cạch”, từ trong người cô một vật gì rơi ra. Quách Tương không nghe thấy, vẫn kêu tiếp:

– Lão hòa thượng, có buông tôi ra không nào?

Vô Sắc thiền sư coi chúng sinh bình đẳng nên không nề hà, cười đáp:

– Cô nương không cần xấu hổ, lão hòa thượng sẽ thả cô ra!

Nói rồi hai tay nhẹ nhàng hất ra, ném Quách Tương ra ngoài 2 trượng. Phen này động thủ, tuy Quách Tương bị khống chế nhưng trong 10 chiêu Vô Sắc cũng không nhận ra được cô ta thuộc môn phái nào, đang toan mở lời nhận thua, vừa cúi đầu, bỗng thấy dưới đất cái gì đen sì, nhìn kỹ hóa ra hai pho tượng La Hán bằng sắt. Quách Tương vừa đặt chân chấm đất, hỏi liền:

– Lão hòa thượng, ông đã nhận thua chưa?

Vô Sắc ngẩng đầu lên, mặt mày tươi tỉnh, cười đáp:

– Tại sao ta lại thua? Ta biết lệnh tôn là đại hiệp Quách Tỉnh, lệnh đường là nữ hiệp Hoàng Dung, Đào Hoa đảo chủ là ông ngoại của cô. Phương danh của Quách nhị tiểu thư chỉ có một chữ Tương từ hai chữ Tương Dương. Quách nhị tiểu thư gia học uyên nguyên, thân thủ quả nhiên không giống người thường.

Ông nói một hồi khiến Quách Tương đứ người, trợn tròn đôi mắt, một hồi lâu không nói được câu nào, nghĩ thầm: “Lão hòa thượng này quả nhiên tà môn, ta đánh 10 chiêu lung tung như thế mà ông ta vẫn nhận ra được”.

Vô Sắc thiền sư thấy cô ta ngơ ngẩn, cười hì hì, nhặt đôi La Hán bằng sắt lên, nói:

– Quách nhị cô nương, ta nhận ra cô là ở đôi thiết La Hán này.

Quách Tương sựng người, nhưng hiểu ra ngay, nói liền:

– À, thì ra ông chính là Vô Sắc thiền sư, đôi thiết La Hán này chính đại sư gửi tặng cho cháu làm quà sinh nhật nên đã nhận ra. Vừa rồi cháu vô lễ đắc tội, mong đại sư tha thứ. Đại sư có gặp đại ca và Long tỷ tỷ không? Cháu đi lên đây chính là mong gặp được đại sư để hỏi thăm tin tức hai người.

Vô Sắc nói:

– Mấy năm trước, Dương đại hiệp có ghé tệ tự chuyện trò ít ngày, không hiểu lúc này ở đâu?

Quách Tương thẫn thờ một hồi rồi nói:

– Đại sư cũng không biết đại ca ca ở đâu ư? Vậy thì ai biết được bây giờ?

Nàng định thần lại, nói tiếp:

– Đại sư là bạn thân của đại ca ca, thảo nào võ công cao minh như vậy. Cháu rất cảm kích món quà đại sư tặng và luôn đem theo người, hôm nay có thể gặp, xin đa tạ đại sư.

Vô Sắc cười đáp:

– Khi nào cô nương gặp Dương đại hiệp, đừng có mách là lão hòa thượng cậy lớn hiếp nhỏ là được rồi.

Quách Tương lặng nhìn ngọn núi ở xa xa, lẩm bẩm một mình:

– Không biết đến bao giờ mới gặp lại được chàng!

Hồi Quách Tương sinh nhật 16 tuổi, Dương Qua nảy ra một ý tưởng ngộ nghĩnh, mời hết thảy đồng đạo giang hồ tụ tập tại Tương Dương để chúc mừng. Khi đó vô số võ lâm cao thủ trong cả hắc đạo lẫn bạch đạo vì nể mặt Dương Qua nên đến chúc mừng, người nào bận quá không đi được thì cũng phái người đem quà quý giá đến biếu. Vô Sắc thiền sư sai người mang đến một đôi La Hán đúc bằng sắt rất tinh xảo. Đôi La Hán này trong bụng có máy, lên dây cót là có thể đấu với nhau một bài Thiếu Lâm La Hán quyền, là do hơn một trăm năm trước một dị tăng trong chùa đã hao phí không biết bao nhiêu tâm huyết mới chế tạo được, thực khéo léo không gì sánh bằng. Quách Tương thích lắm, lúc nào cũng mang theo trong người, không ngờ hôm nay từ trong bọc rơi ra khiến cho Vô Sắc thiền sư nhận ra thân phận. Chiêu quyền pháp Thiếu Lâm sau cùng nàng sử dụng chính là học từ đôi La Hán này.

Vô Sắc cười nói:

– Tuân theo quy củ của tệ tự từ trước tới nay, không dám mời Quách nhị cô nương vào chùa vãn cảnh, xin mở lượng bao dung.

Quách Tương điềm nhiên đáp:

– Không sao cả, điều cháu muốn hỏi đại sư thì cũng đã hỏi rồi.

Vô Sắc lại chỉ Giác Viễn:

– Còn chuyện Giác Viễn sư đệ đây, để lão hòa thượng đưa cô xuống núi, mình tìm một quán ăn, ta sẽ giải thích cho cô nương nghe.

Vô Sắc thiền sư tại chùa Thiếu Lâm địa vị rất cao, vậy mà đối với một cô gái nhỏ lại hết sức tôn kính nên chúng tăng nghe vậy đều lấy làm lạ. Quách Tương nói:

– Tiểu nữ ra tay không biết nặng nhẹ, khiến đắc tội cùng mấy vị hòa thượng, không bị bắt tội là may, đâu dám làm phiền đại sư đến vậy.

Vô Sắc cười nói:

– Sinh nhật cô nương lão hòa thượng đi đốt lương thảo của quân Mông Cổ tại Nam Dương, sau đó về chùa ngay, không đến Tương Dương chúc mừng được, trong lòng vẫn thấy chưa an. Hôm nay có dịp quang lâm tệ tự, nếu không tiễn đưa thì còn là gì đạo tiếp đãi quý khách?

Hai người song hành cùng xuống núi, còn các chúng tăng quay lại chùa Thiếu Lâm. Đi được một đoạn, bỗng nghe đằng sau có tiếng chân người, Quách Tương quay lại, chỉ thấy Trương Quân Bảo đi lẳng lặng ở đằng xa, không dám tới gần. Quách Tương cười:

– Trương huynh đệ, cậu cũng tiễn khách xuống núi đấy ư?

Trương Quân Bảo đỏ mặt, chỉ đáp cụt lủn:

– Vâng!

Vừa lúc ấy, từ cửa chùa một tăng nhân rảo bước chạy xuống, y xem ra thi triển toàn lực khinh công nên trông rất gấp rút. Vô Sắc hơi nhíu mày, nói:

– Làm gì mà hốt hoảng quá vậy?

Nhà sư đó chạy đến trước mặt Vô Sắc, cúi chào xong nghiêng người nói nhỏ mấy câu. Vô Sắc biến sắc, nói lớn:

– Có chuyện như vậy sao?

Tăng nhân nói:

– Phương trượng mời thủ tọa về chùa thương nghị.

Quách Tương thấy vẻ mặt Vô Sắc thiền sư có vẻ phân vân thì biết là trong chùa ắt có chuyện khẩn cấp, liền nói:

– Đại sư có chuyện xin cứ về, chúng ta là bạn hữu tương giao, trọng là chí tâm chứ đâu câu nệ tục lệ. Ngày sau hữu duyên chắc sẽ tái ngộ.

Vô Sắc cả mừng, thi lễ từ biệt rồi, phất phới hai tay áo phi thân quay trở lại sơn môn.

Quách Tương đi tiếp con đường nhỏ đi xuống núi, Trương Quân Bảo lẽo đẽo đi sau, cách chừng năm sáu bước, không dám đi ngang hàng. Quách Tương hỏi:

– Trương huynh đệ, vì cớ gì mà bọn họ lại hiếp đáp sư phụ của cậu thế? Sư phụ cậu nội công tinh thâm, sao lại sợ họ?

Trương Quân Bảo tiến lên hai bước, đáp:

– Trong chùa giới luật tinh nghiêm, ai ai trong tăng chúng nếu như phạm tội đều bị phạt cả, chứ đâu phải cố ý hiếp đáp sư phụ đâu.

Quách Tương lấy làm lạ, hỏi lại:

– Sư phụ cậu là người hiền lành, thật tôi chưa thấy ai tốt như ông ấy. Ông ta phạm lỗi gì thế? Chắc là ông ấy chịu tội giùm người khác phải không? Nếu không thì chắc là bị phạt lầm rồi.

Trương Quân Bảo thở dài:

– Nguyên ủy chuyện này cô nương cũng đã biết rồi, chính là vì bộ Lăng Già kinh.

Quách Tương nói:

– À, có phải là cuốn kinh mà hai gã Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây ăn trộm đó không?

Trương Quân Bảo nói:

– Chính đó. Hôm đó trên đỉnh Hoa Sơn, tiểu nhân được đại hiệp Dương Qua chỉ điểm chế ngự được 2 người họ, rồi tự tay khám toàn thân không thấy tung tích gì của kinh văn. Thầy trò chúng tôi không còn biết gì hơn, chỉ đành về chùa bẩm báo phương trượng. Bộ Lăng Già kinh là do chính tay tổ sư Đạt Ma viết ra, thủ tọa Giới Luật đường trách sư phụ tôi giữ kinh không cẩn thận, làm mất bảo vật vô giá nên phạt thật nặng, âu cũng là chuyện phải thôi.

Quách Tương thở dài một tiếng:

– Việc xử tội sám hối như thế sao lại phải được?

Tuy nàng chỉ lớn hơn Trương Quân Bảo vài tuổi nhưng đã tự coi như đàn chị, nên hỏi thêm:

– Nếu chỉ như thế, tại sao lại không cho sư phụ cậu không được nói năng gì?

Trương Quân Bảo nói:

– Đó là giới luật truyền từ đời này sang đời khác của chùa, hễ khi đang bị phạt thì không được nói chuyện. Tôi nghe các vị lão thiền sư trong chùa nói là như vậy thực ra đối với người bị phạt rất tốt. Nếu như không nói chuyện, việc tu luyện càng mau tinh tiến, còn gánh nước làm cho thể phách cường tráng.

Quách Tương cười:

– Nếu nói như thế thì sư phụ cậu không phải chịu phạt mà lại là đang luyện công, còn tôi thì đúng là nhiều chuyện.

Trương Quân Bảo vội nói:

– Lòng tốt của cô nương, thầy tôi và tôi mười phần cảm kích, vĩnh viễn không dám quên.

Quách Tương thở nhẹ một hơi, nghĩ thầm: “Vậy mà người đã quên hẳn ta rồi”.

Bỗng nghe thấy trong rừng có tiếng lừa kêu, chính là con lừa đen đang ăn cỏ. Quách Tương nói:

– Trương huynh đệ, cậu không cần phải tiễn tôi nữa.

Trương Quân Bảo vẫn còn lưu luyến chưa muốn rời, nhưng cũng không biết chuyện gì để nói. Quách Tương lấy đôi thiết La Hán trong bọc ra, nói:

– Ta cho cậu cái này, cầm lấy đi.

Trương Quân Bảo ú ớ:

– Tôi… tôi…

Quách Tương đặt đôi La Hán vào tay y rồi nhún người một cái đã nhảy lên lưng lừa. Đột nhiên tại bậc đá trên sườn núi có tiếng người gọi:

– Quách nhị cô nương, xin dừng chân!

Chính là Vô Sắc thiền sư từ cửa chùa chạy xuống. Quách Tương nghĩ thầm:

– Lão hòa thượng này thật câu nệ đa lễ, việc gì mà phải nhất định đưa tiễn ta?

Vô Sắc đi rất nhanh, chỉ nháy mắt đã đến trước mặt Quách Tương. Ông ta nói với Trương Quân Bảo:

– Ngươi về chùa đi, đừng chạy lăng quăng trong núi.

Vô Sắc đợi Trương Quân Bảo đi khỏi, lấy trong tay áo ra một tờ giấy, nói:

– Quách nhị cô nương, cô xem có biết ai viết giấy này không?

Quách Tương xuống lừa, tiếp lấy tờ giấy nhìn qua, hóa ra là một tờ hoa tiên vẫn dùng để đề thơ, trên có hai hàng chữ lằng ngoằng:

“Võ công phái Thiếu Lâm, xưng hùng Trung Nguyên, Tây Vực đã lâu. Mười ngày sau, Côn Luân Tam Thánh sẽ đến lĩnh giáo.

Chữ viết rất đẹp, nét bút cứng cỏi. Quách Tương hỏi:

– Côn Luân Tam Thánh là ai thế, ba người này khẩu khí xem chừng phách lối lắm nhỉ?

Vô Sắc nói:

– Hóa ra là cô nương không quen biết những người này.

Quách Tương lắc đầu:

– Cháu không biết, mà cả cái tên Côn Luân Tam Thánh cũng chưa nghe cha mẹ cháu nói đến bao giờ.

Vô Sắc nói:

– Cái đó mới là lạ.

Quách Tương hỏi:

– Lạ là thế nào?

Vô Sắc đáp:

– Cô nương với ta nhất kiến như cố, có nói thật cho cô biết cũng không sao. Cô nương thử đoán xem tờ giấy này từ đâu mà có?

Quách Tương nói:

– Phải chăng Côn Luân Tam Thánh sai người mang đến?

Vô Sắc đáp:

– Nếu như sai người mang đến thì không có gì kỳ quái. Người đời thường nói là cây cả gió to, chùa Thiếu Lâm mấy trăm năm nay vẫn được gọi là võ học chi nguyên nên không lúc nào không có cao thủ đến thử tài. Mỗi khi có nhân vật võ lâm đến, chúng tôi đều hết sức tử tế, nhưng nói đến chuyện tỉ võ thì đều từ chối, không muốn sinh cường tranh tiếng với ai để không ảnh hưởng đến việc tịnh tu.

Quách Tương nói:

– Lão thiền sư dạy rất phải.

Vô Sắc nói tiếp:

– Ngặt một nỗi khi nhân vật võ lâm đã lên đến trên chùa, nếu như không hiển được chút thân thủ thì họ chẳng cam lòng, La Hán đường của Thiếu Lâm chính là để tiếp những võ sư bên ngoài đến viếng cảnh chùa.

Quách Tương cười:

– Hóa ra đại hòa thượng giữ chức vụ đi đánh nhau với người ngoài.

Vô Sắc sượng sùng:

– Võ sư đến đây dù cao cường đến đâu thì đều là bản đường đệ tử đảm đương cả. Chỉ vì hôm nay vì cô nương thân thủ bất phàm nên lão nạp mới thử một chút.

Quách Tương cười đáp:

– Hóa ra đại sư coi trọng cháu quá.

Vô Sắc nói:

– Không dám giấu cô nương, tờ giấy này chúng tôi lấy từ bàn tay pho tượng Hàng Long La Hán ở La Hán đường.

Quách Tương lấy làm lạ, hỏi:

– Ai lại để trên tay tượng Phật như thế nhỉ?

Vô Sắc lắc đầu:

– Trong mấy trăm tăng chúng chùa Thiếu Lâm, nếu như có ai lẻn vào, chẳng lẽ không thấy, chưa nói đến 8 đệ tử luân phiên canh gác ngày đêm ở La Hán đường. Khi có người trông thấy tờ giấy này đã lập tức phi báo lão phương trượng, ai ai cũng lấy làm lạ nên mới triệu lão nạp về chùa thương nghị.

Quách Tương nghe đến đây đã hiểu ý, liền nói:

– Phải chăng đại sư nghi cháu thông đồng với Côn Luân Tam Thánh, đến đây gây rối để cho ba gã kia lẻn vào La Hán đường để tờ giấy này, phải thế không?

Vô Sắc nói:

– Lão nạp đã gặp cô nương rồi quyết không thể nào nghi cho cô nương được, thế nhưng sự việc cũng trùng hợp lạ kỳ, cô nương vừa rời chùa thì tờ giấy này lại xuất hiện tại La Hán đường, thành thử phương trượng và Vô Tướng sư đệ không khỏi không nghi.

Quách Tương nói:

– Cháu không biết ba gã này là ai. Đại hòa thượng, ông việc gì phải sợ? Mười ngày nữa nếu như họ có gan đến đây thì cứ xem hai bên cao thấp thế nào.

Vô Sắc nói:

– Sợ thì không phải, nhưng nếu cô nương với họ không có liên quan thì tôi không khỏi áy náy.

Quách Tương thấy ông ta quả có lòng tốt, chỉ ngại Côn Luân Tam Thánh là chỗ quen biết với mình, khi động thủ ắt có nhiều điều cấm kỵ, nên nói:

– Nếu như họ thực lòng đến tìm hiểu võ nghệ thì không nói làm gì, còn không thì cứ việc cho họ một phen khốn khổ. Cứ theo tờ giấy này khẩu khí xem ra cuồng vọng lắm.

Nàng nói tới đây, chợt nghĩ ra một việc nên tiếp:

– Hay là có ai trong chùa cấu kết, lén bỏ vào tờ giấy này chăng? Nếu thế cũng không lấy gì làm lạ.

Vô Sắc nói:

– Chuyện đó chúng tôi cũng đã nghĩ tới rồi, nhưng nhất định không thể có. Tay của Hàng Long La Hán cao đến hơn 3 trượng, ngày thường muốn phủi bụi trên pho tượng này, cũng phải bắc giá cao. Kẻ nào nhảy lên tới đó, khinh công giỏi như thế không phải là nhiều.

Lòng hiếu kỳ của Quách Tương nổi lên, rất muốn xem thử 3 gã Côn Luân Tam Thánh là hạng người nào, tăng chúng chùa Thiếu Lâm cùng họ tỉ thí võ nghệ, kết quả ai thắng ai bại. Ngặt là chùa Thiếu Lâm không tiếp nữ giới, xem ra cái trò vui này không cách nào coi tận mắt được. Vô Sắc thấy cô cúi đầu suy nghĩ, lại tưởng cô đang trù liệu kế sách hộ cho chùa Thiếu Lâm nên nói:

– Chùa Thiếu Lâm cả nghìn năm qua đã chịu không biết bao nhiêu sóng to gió cả, tồn tại đến hôm nay, nếu bọn Côn Luân Tam Thánh kia nhất định cùng chúng tôi qua lại một phen thì chùa Thiếu Lâm thể nào cũng cùng với họ chu toàn. Quách cô nương ở trên chốn giang hồ nửa tháng nữa sẽ nghe tin tức, để xem Côn Luân Tam Thánh có lật đổ được chùa Thiếu Lâm hay không.

Nói tới đây, hào khí của ông lại nổi lên bừng bừng như thời trai trẻ. Quách Tương cười đáp:

– Tốt lắm, cháu mong nửa tháng nữa sẽ nghe được tin vui.

Nói xong nàng quay mình nhảy lên lưng lừa, 2 người nhìn nhau cùng cười. Quách Tương giục con lừa đi lững thững xuống chân núi, trong lòng đã định bụng không thể nào bỏ qua trận đấu này được. Cô nghĩ thầm: “Làm cách nào 10 ngày sau mình lẻn được vào chùa Thiếu Lâm để xem cái cảnh đáng xem này nhỉ? Chỉ e mấy gã Côn Luân Tam Thánh chẳng có chân tài thực học, bị mấy nhà sư đánh cho vài cái đã thua thì có gì là thú. Bọn họ chỉ cần được bằng một nửa gia gia, ông ngoại, hoặc đại ca ca, thì cái màn Côn Luân Tam Thánh đại náo Thiếu Lâm tự kia mới đáng đến coi”. Nghĩ đến Dương Qua, trong lòng nàng lại thấy u uất, 3 năm qua đi khắp nơi tìm kiếm, vẫn không thấy bóng dáng tăm hơi. Thật là:

Chung Nam sơn, cổ mộ trường bế,
  Vạn Hoa huyễn hoa lạc vô thanh.
  Tuyệt Tình cốc không sơn tịch mịch,
  Phong Lăng độ lãnh nguyệt minh minh.

Trong đầu nàng cũng đã nghĩ không biết bao nhiêu lần rằng: “Thực ra, dẫu ta có kiếm được y thì cũng để làm gì? Chẳng càng thêm buồn khổ, thêm sầu não sao? Y đi xa xôi biệt tăm biệt tích chẳng tốt hơn ư? Thế nhưng sao ta vẫn cứ nhớ nhung, vẫn muốn đi tìm?”

Nàng cứ để cho con lừa tự thả bước, đi lang thang trong vùng núi Thiếu Thất, theo hướng Tây mà đi. Quay đầu nhìn lại ngọn Đông Phong của núi Thiếu Thất chỉ thấy cao vút xanh xanh, núi nọ liền núi kia, liên miên bất tận.

Cứ như thế nàng đi mấy ngày liền, một ngày kia đã tới đài Tam Hưu, nghĩ thầm: “Sao lại Tam Hưu? Là ba điều tốt lành gì? Đời người có thiên hưu, vạn hưu đâu phải chỉ tam hưu?”

Lại rẽ qua hướng Bắc, đi qua một đỉnh núi, thấy có đến mấy trăm gốc cổ bách, cây nào cũng thẳng cao vời vợi, ánh mặt trời chiếu xuống thành những đốm hoa, thật là rực rỡ vô cùng. Quách Tương đang ngắm cảnh, bỗng thấy từ bên kia sườn núi văng vẳng đâu tiếng đàn vọng đến, lấy làm lạ lùng, nghĩ thầm: “Ở nơi hoang tịch này sao lại có cao nhân nhã sĩ đến đây gẩy đàn?”

Nàng từ bé được mẹ dạy cầm, kỳ, thư, họa, môn nào cũng biết, tuy chưa sâu sắc nhưng cũng hiểu biết ít nhiều. Lúc này nghe thấy tiếng đàn, nàng nổi tính hiếu kỳ nên xuống lừa, theo tiếng đàn tìm đến.

Trang sau 
0 0 vote
Article Rating
0
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments